CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ MIỄN, GIẢM, HOÀN THUẾ NHẬP KHẨU 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu 1. Khái niệm, đặc điểm về miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu Thuế là một khoản tiền nộp bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và Pháp luật [30].
Như vậy, Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ theo luật định cho Nhà nước với mức độ, thời hạn cụ thể để Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Trong cấu trúc hệ thống thuế của mỗi quốc gia, thuế nhập khẩu là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô tổng hợp về kinh tế, tài chính và thương mại, nó gắn liền với cơ chế quản lý nhập khẩu và chính sách đối ngoại của một quốc gia. Thuế nhập khẩu có vai trò và ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của nhà nước trong từng thời kỳ. Khái niệm về thuế nhập khẩu có thể được xem xét trên hai phương diện, đó là phương diện kinh tế và phương diện pháp lý.
Xét về phương diện kinh tế, quan niệm thuế nhập khẩu là khoản đóng 7 góp bằng tiền của tổ chức và cá nhân vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật khi họ có hoạt động nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một quốc gia. Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể được xem như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước là người thu thuế với tổ chức, cá nhân là người nộp thuế về việc tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật về thuế nhập khẩu. Như vậy, thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa được phép nhập khẩu qua biên giới theo quy định của quốc gia có hàng hóa nhập khẩu. * Có thể hiểu về miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu như sau: - Miễn thuế nhập khẩu: Như trên đã trình bày mỗi quốc gia đều có chính sách pháp luật về thuế nhập khẩu để đảm bảo duy trì và thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.
Tuy nhiên, do thể chế chính trị, tình hình kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia có những chính sách phù hợp trong đó có chính sách miễn thuế nhập khẩu. Miễn thuế nhập khẩu là không áp dụng nghĩa vụ nộp thuế hàng hóa nhập khẩu đối với đối tượng nộp thuế do thỏa mãn các điều kiện được pháp luật quy định. Đối tượng được miễn thuế là các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa thỏa mãn các điều kiện được miễn thuế theo quy định. Nhà nước áp dụng chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu trong một số lĩnh vực, ngành nghề cần ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động nhập khẩu hàng hóa nhằm thu hút đầu tư, phát triển những ngành nghề đặc biệt quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đối với những địa bàn khó khăn và thực hiện chính sách đối ngoại.
- Giảm thuế nhập khẩu: 8 Việc thực hiện chính sách giảm thuế nhập khẩu là thể hiện việc nhà nước chia sẻ những rủi ro đối với các tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hóa nhưng bị tổn thất do bị hư hỏng, mất mát. Tuy nhiên, hàng hóa đó phải đang trong quá trình giám sát của cơ quan hải quan và phải được cơ quan có thẩm quyền giám định chứng nhận có sự hư hỏng, mất mát. Số thuế nhập khẩu được giảm tương ứng với số lượng hàng hóa bị hư hỏng, mất mát. - Hoàn thuế nhập khẩu: Hoàn thuế nhập khẩu là Nhà nước (cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền) trả lại tiền thuế cho đối tượng nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế nhưng sau đó có quyết định miễn, giảm thuế trong các trường hợp cụ thể được pháp luật quy định.
Từ các khái niệm trình bày trên cho thấy đặc điểm về thuế nhập khẩu và về miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu được thể hiện như sau: Thuế nhập khẩu có những đặc điểm, đó là: Thứ nhất, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu. Thuế nhập khẩu được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa. Thứ hai, thuế nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế. Thông qua việc kê khai, tính thuế đối với các hàng hóa nhập khẩu Nhà nước kiểm soát được hoạt động thương mại quốc tế.
Vì vậy, thuế nhập khẩu là một công cụ quan trọng của Nhà nước để kiểm soát hoạt động thương mại quốc tế. Thứ ba, thuế nhập khẩu có liên quan đến quốc tế. Vì vậy, nó bị tác động và chịu ảnh hưởng trực tiếp các yếu tố như: Xu hướng thương mại quốc tế, khi kinh tế thế giới có sự biến động. 9 *Đặc điểm về miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu: Thứ nhất, thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước, nó thuộc loại thuế dễ thu và ít bị phản ứng từ phía trong nước.
Mục tiêu chung của các quốc gia là sử dụng thuế nhập khẩu để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực hiện chính sách miễn thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến giảm nguồn thu của ngân sách. Thứ hai, thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng hoá, làm tăng giá hàng hoá nên có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng. Bởi vì, lượng hàng hoá nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả.
Giá cả hàng hoá cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường. Thông qua việc miễn thuế nhập khẩu giá cả hàng hóa sẽ giảm đối với những mặt hàng, lĩnh vực nhà nước khuyến khích nhập khẩu. Vì vậy, nhà nước điều tiết việc nhập khẩu hàng hoá. Thứ ba, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Việc miễn thuế đối với hàng hoá nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư sản xuất sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu. Ðặc biệt, việc miễn thuế nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các ngành nghề còn non trẻ trong nước có thời gian phát triển và tìm kiếm lợi nhuận để có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. Thứ tư, việc thực hiện chính sách giảm thuế là thể hiện việc nhà nước chia sẻ những rủi ro đối với các tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hóa nhưng bị tổn thất do bị hư hỏng, mất mát. Tuy nhiên, hàng hóa đó phải đang trong quá trình giám sát của cơ quan hải quan và phải được cơ quan có thẩm quyền giám định chứng nhận có sự hư hỏng, mất mát.
Việc giảm thuế có tính tương ứng với tỷ lệ tổn thất thực tế của hàng hóa, trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu bị hư hỏng, mất mát toàn bộ thì cá 10 nhân, tổ chức không phải nộp thuế. Việc hoàn thuế thể hiện chính sách và nguyên tắc pháp luật của thuế, đó là: ‘‘Thu đúng, thu đủ; bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế“. Vì vậy, khi tổ chức, cá nhân đã nộp thuế nhập khẩu nhưng có lý do theo quy định của pháp luật thì họ không phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước nên họ được hoàn lại số tiền thuế đã nộp. Như vậy, đảm bảo đáp ứng quyền lợi đối với tổ chức, cá nhân.
Tuy nhiên, hoàn thuế cũng có giới hạn nhất định. Đó là, trường hợp hàng hóa đã hết giá trị sử dụng hoặc có mức hoàn tối thiểu theo quy định thì không được hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp. Vai trò của miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu Với đặc điểm, chức năng của mình, thuế nhập khâu có 03 vai trò, đó là: Thuế nhập khẩu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Thuế nhập khẩu không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước mà nó còn có tác động đến số lượng và cơ cấu các nguồn thu của các sắc thuế khác có liên quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách đối với những hình thức thuế gắn với hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế như Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế chống bán phá giá, Thuế Tự vệ, Thuế Thu nhập Doanh nghiệp.
Thuế nhập khẩu điều tiết hoạt động kinh tế. Thuế nhập khẩu là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà nước đối với nền kinh tế. Thông qua thuế nhập khẩu Nhà nước điều chỉnh quá trình phân bổ lại các nguồn lực của nền kinh tế. Thuế nhập khẩu có tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa trong thương mại quốc tế, từ đó điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường.
Vì vậy, tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất. Thuế nhập khẩu là công cụ hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. 11 Thông qua thuế nhập khẩu Nhà nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết sản xuất trong nước. Việc đánh thuế nhập khẩu ở các mức khác nhau của từng loại hàng hóa nhập khẩu sẽ điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực cho các ngành sản xuất.
Việc thực hiện miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu có liên quan trực tiếp đến thuế nhập khẩu. Vì vậy, xét trong yếu tố liên quan với thuế nhập khẩu thì miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu cơ bản mang bản chất của vai trò thuế nhập khẩu, đó là: Miễn thuế nhập khẩu là công cụ để nhà nước thực hiện chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại đối với các nước, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngọai giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.