Mặt Khách Quan Của Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Trong Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2016

120
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MẶT KHÁCH QUAN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu

1.2. Khái niệm mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu. Ý nghĩa của việc nghiên cứu mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của những quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu

1.3.1. Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1985

1.3.2. Từ khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời cho đến nay

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VỀ MẶT KHÁCH QUAN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Thực trạng quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

2.2. Thực trạng quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu

2.3. Thực trạng quy định về hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu

2.4. Thực trạng quy định về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu

2.5. Thực trạng quy định về các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu

2.6. Thực tiễn áp dụng các quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

2.6.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu

2.6.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu

2.6.3. Thực tiễn áp dụng các quy định về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu

2.6.4. Thực tiễn áp dụng các quy định về các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ MẶT KHÁCH QUAN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY

3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam và bảo đảm áp dụng đúng các quy định này

3.2. Hoàn thiện quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam

3.3. Một số giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mặt Khách Quan Của Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực tồn tại trong mọi quốc gia, thể hiện qua hành vi của con người với những đặc trưng riêng biệt. Pháp luật hình sự của mỗi nước quy định những đặc trưng cơ bản của tội phạm và các chế định liên quan. Dựa vào đó, chúng ta xác định hành vi nào bị coi là tội phạm và phải chịu chế tài tương ứng. Ở Việt Nam, tội phạm được luật hình sự quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS), do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của BLHS phải bị xử lý hình sự. Việc nghiên cứu mặt khách quan của tội xâm phạm sở hữu là vô cùng quan trọng để xác định đúng tội danh và áp dụng hình phạt phù hợp.

1.1. Khái Niệm Mặt Khách Quan Của Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Mặt khách quan của tội xâm phạm sở hữu bao gồm những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, như hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm và các yếu tố khác liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Đây là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, bên cạnh mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Việc xác định đầy đủ và chính xác mặt khách quan là cơ sở để phân biệt tội xâm phạm sở hữu với các loại tội phạm khác.

1.2. Ý Nghĩa Nghiên Cứu Mặt Khách Quan Của Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Nghiên cứu mặt khách quan của tội xâm phạm sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh, xác định trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt. Việc làm rõ các yếu tố thuộc mặt khách quan giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, từ đó đưa ra kết luận chính xác về hành vi phạm tội. Ngoài ra, nghiên cứu này còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm sở hữu.

II. Lịch Sử Phát Triển Quy Định Về Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Từ khi giành được độc lập, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển kinh tế, đồng thời chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền của công dân, trong đó có quyền sở hữu. Trong mỗi giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước đều có chủ trương, chính sách cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, phù hợp với điều kiện lịch sử. Trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, Nhà nước đã đề ra nhiều biện pháp đấu tranh, đẩy lùi các loại tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu. Mặc dù đã có sự phối hợp đồng bộ, tỷ lệ tội phạm xâm phạm sở hữu vẫn ở mức cao so với các loại tội phạm khác.

2.1. Giai Đoạn 1945 1985 Bảo Vệ Sở Hữu Trong Thời Kỳ Kháng Chiến

Trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1985, pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định đầu tiên về các tội xâm phạm sở hữu, tập trung vào bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể và công dân trong bối cảnh chiến tranh và xây dựng đất nước. Các quy định này còn đơn giản, chưa cụ thể hóa đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến việc bảo vệ quyền sở hữu.

2.2. Từ BLHS 1985 Đến Nay Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Từ khi Bộ luật Hình sự 1985 ra đời đến nay, pháp luật hình sự Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng trong việc quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu. Các quy định ngày càng chi tiết, cụ thể, phân loại rõ các hành vi phạm tội, hậu quả và các yếu tố khác liên quan. Điều này góp phần nâng cao tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm sở hữu.

III. Thực Trạng Quy Định Về Hành Vi Xâm Phạm Sở Hữu Hiện Nay

BLHS hiện hành đã có những quy định cụ thể về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu, bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, và các dấu hiệu khác. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc xác định các yếu tố này, dẫn đến những sai sót trong định tội danh và quyết định hình phạt. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng.

3.1. Quy Định Về Hành Vi Nguy Hiểm Cho Xã Hội Của Tội Xâm Phạm

Hành vi nguy hiểm cho xã hội là yếu tố quan trọng nhất của mặt khách quan của tội xâm phạm sở hữu. BLHS quy định nhiều hành vi khác nhau, như trộm cắp, cướp, cưỡng đoạt, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mỗi hành vi có những đặc trưng riêng, cần được xác định chính xác để định tội danh đúng.

3.2. Quy Định Về Hậu Quả Nguy Hiểm Cho Xã Hội Của Tội Xâm Phạm

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất do hành vi xâm phạm sở hữu gây ra. Mức độ thiệt hại là một trong những căn cứ quan trọng để định khung hình phạt. BLHS quy định các mức độ thiệt hại khác nhau, từ gây thiệt hại nhỏ đến gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng. Việc xác định chính xác mức độ thiệt hại là rất quan trọng để đảm bảo tính công bằng của pháp luật.

3.3. Mối Quan Hệ Nhân Quả Giữa Hành Vi Và Hậu Quả

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là yếu tố bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự. Hành vi xâm phạm sở hữu phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Nếu không có mối quan hệ nhân quả, người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu.

IV. Thực Tiễn Áp Dụng Quy Định Về Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Thực tiễn áp dụng các quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS hiện hành còn nhiều bất cập. Việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến những sai sót trong định tội danh và quyết định hình phạt. Cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.

4.1. Áp Dụng Quy Định Về Hành Vi Nguy Hiểm Cho Xã Hội

Trong thực tiễn, việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu đôi khi gặp khó khăn do sự phức tạp của các hành vi phạm tội. Ví dụ, việc phân biệt giữa trộm cắp và công nhiên chiếm đoạt tài sản, giữa lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đòi hỏi phải xem xét kỹ lưỡng các tình tiết của vụ án.

4.2. Áp Dụng Quy Định Về Hậu Quả Nguy Hiểm Cho Xã Hội

Việc xác định hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng là một thách thức trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Việc định giá tài sản bị xâm phạm, xác định thiệt hại phi vật chất do hành vi phạm tội gây ra đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các chuyên gia.

4.3. Áp Dụng Quy Định Về Mối Quan Hệ Nhân Quả

Chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cần phải thu thập đầy đủ chứng cứ, phân tích một cách khoa học để xác định hành vi xâm phạm sở hữu là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

V. Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Định Về Tội Xâm Phạm Sở Hữu

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm sở hữu, cần có những giải pháp đồng bộ, bao gồm hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Đặc biệt, cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của pháp luật.

5.1. Hoàn Thiện Quy Định Về Mặt Khách Quan Của Tội Xâm Phạm

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu để đảm bảo tính chính xác, rõ ràng và đầy đủ. Cần cụ thể hóa các hành vi phạm tội, hậu quả và các yếu tố khác liên quan để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

5.2. Nâng Cao Năng Lực Của Cơ Quan Tiến Hành Tố Tụng

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ điều tra, kiểm sát, xét xử để nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ trong việc giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu. Cần trang bị đầy đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật để phục vụ công tác điều tra, thu thập chứng cứ.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề chung về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Thực trạng quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng Chương 3: Hoàn thiện quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam và một số giải pháp khác đảo đảm áp dụng đúng các quy định này. 9 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MẶT KHÁCH QUAN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu 1.

Khái niệm mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu Khái niệm mặt khách quan Tội phạm là hiện tượng tiêu cực tồn tại trong mọi quốc gia. Nó cũng là hành vi của con người nhưng hành vi đó có những đặc trưng riêng. Tất cả những đặc trưng cơ bản của tội phạm và những chế định liên quan đều được quy định trong pháp luật hình sự của mỗi nước. Căn cứ vào đó, chúng ta xác định được hành vi nào bị coi là tội phạm và phải chịu chế tài tương ứng do pháp luật quy định.

Ở Việt Nam, tội phạm được luật hình sự quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý. Sự tồn tại của con người trong thế giới khách quan được biểu hiện bằng hoạt động đối với môi trường xung quanh và thông qua hành vi. Hành vi đó luôn chứa đựng cái “tôi” của chủ thể, đó chính là mặt chủ quan. Để nhận thức về hành vi và chủ thể thực hiện hành vi ấy, phải thông qua những diễn biến và biểu hiện bên ngoài, hay nói cách khác phải thông qua mặt khách quan.

Chính vì vậy, khi nghiên cứu về tội phạm, một vấn đề được đặt ra đó là bên cạnh khái niệm được quy định trong luật thì những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, những gì diễn ra trong thế giới khách quan, đã được con người nhận thức như thế nào, vai trò của những yếu tố đó trong tổng thể các yếu tố của cấu thành tội phạm được thể hiện ra sao? Bởi xét đến cùng, thì hành vi phạm tội là thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, giữa những diễn biến tâm lý bên trong của 10 z người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và những biểu hiện diễn ra bên ngoài mà ta có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan. Mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có liên hệ chặt chẽ với nhau, bên cạnh việc nghiên cứu mặt chủ quan, thì việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm là cần thiết vì tội phạm thể hiện một cách rõ nét nhất các yếu tố của nó thông qua mặt khách quan, những diễn biến bên ngoài mà con người nhận thức được không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể. Bất kỳ tội phạm nào xảy ra trong thực tế khách quan cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể nhận biết trực tiếp được. [19; tr 185] Mặt khách quan là một yếu tố quan trọng của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do tất cả các yếu tố của cấu thành tội phạm quyết định nhưng nếu phân tích từng yếu tố ta thấy chỉ khi nào người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì thái độ chủ quan của họ mới có ý nghĩa về hình sự, khách thể mới bị xâm phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm.

Hiện nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan [26, tr. Theo đó, những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được là: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…) Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, 11 z tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan [19,tr. Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm đối lập với mặt chủ quan là mặt bên trong của tội phạm, nhưng nó không nằm ngoài tội phạm mà nó là một mặt của cấu thành tội phạm, nó là những biểu hiện khách quan mà bằng những giác quan của con người chúng ta có thể nhận biết được như: nhìn thấy được, nghe thấy được… Hay tương tự như vậy: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài của tội phạm… Là một trong bốn yếu tố của tội phạm, một mặt trong thể thống nhất với mặt chủ quan của hành vi phạm tội. Những biểu hiện của mặt khách quan của tội phạm là hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó cũng như các điều kiện bên ngoài khác như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm… Trong đó, biểu hiện hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất của mặt khách quan được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm.

Những biểu hiện khác chỉ được phản ánh trong một số cấu thành tội phạm [40, tr. Như vậy, mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về định nghĩa mặt khách quan của tội phạm, nhưng nhìn chung quan điểm về mặt khách quan của tội phạm là đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu: Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan hay nói cách khác đó là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan. Các tội xâm phạm sở hữu 12 z Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội. Nó ra đời cùng với các hoạt động kinh tế và được luật hóa thành “quyền sở hữu” khi xuất hiện Nhà nước và pháp luật.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự 2005 thì quyền sở hữu là quyền cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Các quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. [55, tr 145] Điều 182 Bộ luật dân sự quy định: "Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản thuộc sở hữu của mình. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định" [52].

Điều 192 Bộ luật dân sự cũng quy định: "Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Đối với những người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định. Quyền định đoạt được quy định tại Điều 195 Bộ luật dân sự là "quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản" [52], như chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, cho tặng, cho vay để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với quyền sở hữu. Ba quyền trên hợp thành quyền sở hữu đối với tài sản - Đây là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, được Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ, Điều 51 Hiến pháp 2013 quy định: 13 z Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Quyền sở hữu ở đây là sở hữu về tài sản chứ không phải là sở hữu công nghiệp hay sở hữu trí tuệ. Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản hoặc xâm phạm vào một trong ba quyền nói trên. Theo đó, ta có khái niệm sau: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại chương XIV Bộ luật hình sự, có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các tội xâm phạm sở hữu quy định trong chương XIV Bộ luật hình sự 1999 là các tội được sát nhập từ các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa quy định tại chương IV và các tội xâm phạm sở hữu công dân quy định tại chương VI Bộ luật hình sự 1985.

Với 13 tội danh phản ánh đúng bản chất của tên chương là các tội xâm phạm sở hữu. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm của hành vi phạm tội, có thể phân chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai loại: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ Điều 133 đến Điều 140 và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt, từ Điều 141 đến Điều 145 Bộ luật hình sự. - Nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm: Tội cướp tài sản - Điều 133; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản - Điều 134; Tội cưỡng đoạt tài sản - Điều 135; Tội cướp giật tài sản - Điều 136; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản - Điều 137; Tội trộm cắp tài sản - Điều 138; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Điều 139; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - Điều 140.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mặt Khách Quan Của Tội Xâm Phạm Sở Hữu Trong Luật Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tội xâm phạm sở hữu, một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng trong xã hội hiện đại. Tác giả phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, cũng như những hậu quả pháp lý mà tội xâm phạm sở hữu gây ra. Bên cạnh đó, tài liệu còn nêu rõ vai trò của luật hình sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức mà pháp luật Việt Nam xử lý các hành vi xâm phạm này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nơi cung cấp thông tin chi tiết về nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tình trạng tội phạm xâm phạm sở hữu tại một địa phương cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về một trong những hình thức xâm phạm sở hữu phổ biến nhất. Cuối cùng, tài liệu Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh sẽ cung cấp cái nhìn về trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp gây ra hậu quả nghiêm trọng, liên quan đến tội xâm phạm sở hữu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.