Chương 1: Một số vấn đề chung về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Thực trạng quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng Chương 3: Hoàn thiện quy định về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam và một số giải pháp khác đảo đảm áp dụng đúng các quy định này. 9 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MẶT KHÁCH QUAN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu 1.
Khái niệm mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu Khái niệm mặt khách quan Tội phạm là hiện tượng tiêu cực tồn tại trong mọi quốc gia. Nó cũng là hành vi của con người nhưng hành vi đó có những đặc trưng riêng. Tất cả những đặc trưng cơ bản của tội phạm và những chế định liên quan đều được quy định trong pháp luật hình sự của mỗi nước. Căn cứ vào đó, chúng ta xác định được hành vi nào bị coi là tội phạm và phải chịu chế tài tương ứng do pháp luật quy định.
Ở Việt Nam, tội phạm được luật hình sự quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý. Sự tồn tại của con người trong thế giới khách quan được biểu hiện bằng hoạt động đối với môi trường xung quanh và thông qua hành vi. Hành vi đó luôn chứa đựng cái “tôi” của chủ thể, đó chính là mặt chủ quan. Để nhận thức về hành vi và chủ thể thực hiện hành vi ấy, phải thông qua những diễn biến và biểu hiện bên ngoài, hay nói cách khác phải thông qua mặt khách quan.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu về tội phạm, một vấn đề được đặt ra đó là bên cạnh khái niệm được quy định trong luật thì những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, những gì diễn ra trong thế giới khách quan, đã được con người nhận thức như thế nào, vai trò của những yếu tố đó trong tổng thể các yếu tố của cấu thành tội phạm được thể hiện ra sao? Bởi xét đến cùng, thì hành vi phạm tội là thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, giữa những diễn biến tâm lý bên trong của 10 z người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và những biểu hiện diễn ra bên ngoài mà ta có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan. Mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có liên hệ chặt chẽ với nhau, bên cạnh việc nghiên cứu mặt chủ quan, thì việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm là cần thiết vì tội phạm thể hiện một cách rõ nét nhất các yếu tố của nó thông qua mặt khách quan, những diễn biến bên ngoài mà con người nhận thức được không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể. Bất kỳ tội phạm nào xảy ra trong thực tế khách quan cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể nhận biết trực tiếp được. [19; tr 185] Mặt khách quan là một yếu tố quan trọng của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do tất cả các yếu tố của cấu thành tội phạm quyết định nhưng nếu phân tích từng yếu tố ta thấy chỉ khi nào người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì thái độ chủ quan của họ mới có ý nghĩa về hình sự, khách thể mới bị xâm phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm.
Hiện nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan [26, tr. Theo đó, những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được là: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…) Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, 11 z tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan [19,tr. Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm đối lập với mặt chủ quan là mặt bên trong của tội phạm, nhưng nó không nằm ngoài tội phạm mà nó là một mặt của cấu thành tội phạm, nó là những biểu hiện khách quan mà bằng những giác quan của con người chúng ta có thể nhận biết được như: nhìn thấy được, nghe thấy được… Hay tương tự như vậy: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài của tội phạm… Là một trong bốn yếu tố của tội phạm, một mặt trong thể thống nhất với mặt chủ quan của hành vi phạm tội. Những biểu hiện của mặt khách quan của tội phạm là hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó cũng như các điều kiện bên ngoài khác như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm… Trong đó, biểu hiện hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất của mặt khách quan được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm.
Những biểu hiện khác chỉ được phản ánh trong một số cấu thành tội phạm [40, tr. Như vậy, mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về định nghĩa mặt khách quan của tội phạm, nhưng nhìn chung quan điểm về mặt khách quan của tội phạm là đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu: Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan hay nói cách khác đó là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan. Các tội xâm phạm sở hữu 12 z Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội. Nó ra đời cùng với các hoạt động kinh tế và được luật hóa thành “quyền sở hữu” khi xuất hiện Nhà nước và pháp luật.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự 2005 thì quyền sở hữu là quyền cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Các quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. [55, tr 145] Điều 182 Bộ luật dân sự quy định: "Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản thuộc sở hữu của mình. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định" [52].
Điều 192 Bộ luật dân sự cũng quy định: "Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Đối với những người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định. Quyền định đoạt được quy định tại Điều 195 Bộ luật dân sự là "quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản" [52], như chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, cho tặng, cho vay để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với quyền sở hữu. Ba quyền trên hợp thành quyền sở hữu đối với tài sản - Đây là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, được Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ, Điều 51 Hiến pháp 2013 quy định: 13 z Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Quyền sở hữu ở đây là sở hữu về tài sản chứ không phải là sở hữu công nghiệp hay sở hữu trí tuệ. Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản hoặc xâm phạm vào một trong ba quyền nói trên. Theo đó, ta có khái niệm sau: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại chương XIV Bộ luật hình sự, có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các tội xâm phạm sở hữu quy định trong chương XIV Bộ luật hình sự 1999 là các tội được sát nhập từ các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa quy định tại chương IV và các tội xâm phạm sở hữu công dân quy định tại chương VI Bộ luật hình sự 1985.
Với 13 tội danh phản ánh đúng bản chất của tên chương là các tội xâm phạm sở hữu. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm của hành vi phạm tội, có thể phân chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai loại: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ Điều 133 đến Điều 140 và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt, từ Điều 141 đến Điều 145 Bộ luật hình sự. - Nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm: Tội cướp tài sản - Điều 133; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản - Điều 134; Tội cưỡng đoạt tài sản - Điều 135; Tội cướp giật tài sản - Điều 136; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản - Điều 137; Tội trộm cắp tài sản - Điều 138; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Điều 139; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - Điều 140.