Đặt vấn đề Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, đây là ngành có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của một số quốc gia trên thế giới và đặc biệt với một nước nông nghiệp như Việt Nam. Nền nông nghiệp nước ta giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước không những làm tăng thu nhập, tăng việc làm cho người nông dân mà còn cung cấp lượng thực, thực phẩm hằng ngày. Khí hậu thuận lợi cũng là một lợi thế góp phần làm tăng năng xuất cây trồng của nước ta. Tuy nhiên dịch bệnh, côn trùng gây hại, động vật hại đã và đang suất hiện ngày càng nhiều.
Chúng lan rộng đe dọa đến các thời kỳ phát triển của cây trồng làm thiệt hại lớn về kinh tế. Do đó, công cuộc Bảo vệ thực vật là tiềm năng để tăng năng xuất chất lượng nông sản phẩm. Cây lúa là một trong những cây lương thực chính của nước ta và nhiều nước trên thế giới, có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, được coi là một trong ba cây lương thực chủ yếu: Lúa mỳ, lúa gạo, ngô. Trong đó, 40% dân số (thế giới) sử dụng lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% dân số dùng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày.
Tuy nhiên sản suất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và nhiều dịch hại: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, chuột, rầy nâu…trong đó rầy nâu ( Nilaparvata lugens Stal) là đối tượng sâu hại lúa nguy hiểm nhất ở hầu hết các vùng trồng lúa ở Việt Nam (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004). Rầy nâu nguy hiểm ở chỗ là không những trực tiếp gây hại bằng cách chích hút dịch nhựa ở thân cây làm cho cây lúa sinh trưởng và phát triển kém. Mà còn là môi giới truyền bệnh virus vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa làm giảm năng suất và thoái hóa giống. Ở Việt Nam, rầy nâu hại lúa tại miền Nam được ghi nhận sớm hơn ở miền Bắc.
Trong hai năm 1977-1978 rầy nâu đã gây thiệt hại, diện tích bị hại chỉ tính riêng ở đồng bằng sông Cửu Long lên tới 40. Tại Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long rầy nâu bùng phát thành dịch lớn vào năm 1990-1991,1996- 1997. Năm 1990, rầy nâu phá hại tại đồng bằng sông Cửu long trên diện tích 1 khoảng 1 triệu ha. Trong vụ Đông Xuân 2005-2006, diện tích lúa bị rầy nâu hại ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng hơn 66.700 ha trong tổng diện tích 1.
Do đó, việc phòng trừ rầy vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Ở nước ta và các nước sản xuất lúa gạo trên thế giới, biện pháp chính để phòng trừ rầy nâu được xem là hiệu quả và nhanh nhất là sử dụng thuốc trừ sâu hóa học. Thực tế, thì biện pháp này mang lại hiệu quả phòng trừ cao, giải quyết nhanh các đợt dịch rầy nâu, nhưng việc lạm dụng vào thuốc hóa học thường xuyên, liên tục với liều lượng cao trong thời gian dài đã gây ra những hậu quả không mong muốn. Làm cho rầy nâu hình thành tính kháng thuốc, gây ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, sử dụng giống kháng cũng là một trong những biện pháp có hiệu quả để phòng trừ rầy nâu trong hệ thống quản lý dịch hại lúa tổng hợp. Trồng giống lúa kháng rầy là một trong các giải pháp quan trọng và chủ yếu để góp phần hạn chế dịch rầy nâu và bệnh lúa lùn xoắn lá, là phương pháp tiềm năng rất lớn, ít tốn kém và tránh được vấn đề ô nhiễm môi trường. Khi gieo cấy các giống kháng rầy giảm được việc sử dụng thuốc trừ sâu nên bảo vệ được thiên địch trên ruộng lúa. Tuy nhiên sau một thời gian sử dụng giống kháng, rầy nâu có thể vượt qua được tính kháng của giống lúa và gây hại giống kháng đó.Để phòng trừ thiệt hại do rầy nâu gây ra, nông dân đã áp dụng nhiều biện pháp như dùng giống kháng nhưng chủ yếu vẫn là biện pháp hóa học.
Thực tế biện pháp này mang lại hiệu quả phòng trừ cao, giải quyết nhanh nhiều trận dịch lớn. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc với liều lượng và tần suất sử dụng không đúng với khuyến cáo đã tạo nên tính kháng thuốc của rầy nâu làm giảm hiệu quả sử dụng thuốc khiến việc phòng trừ chúng càng trở nên khó khăn. Xuất phát từ yêu cầu trên, được sự phân công của Bộ môn Côn trùng khoa Nông học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Thị Thu Giang tôi thực hiện đề tài: “Diễn biến mật độ rầy nâu tại Đặng Xá Gia Lâm, Hà Nội vụ lúa xuân năm 2021 và đánh giá tính kháng rầy nâu Nilaparvata lugens Stals của một số giống lúa. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Đánh giá tính kháng của các giống lúa đối với rầy nâu, đi sâu điều tra diễn biến mật độ rầy nâu hại lúa vụ đông xuân năm 2021 tại Gia Lâm, Hà Nội từ đó lựa chọn đề xuất sử dụng các giống lúa trong sản xuất trong quản lý rầy nâu có hiệu quả cao, kinh tế tại Gia Lâm, Hà Nội. Yêu cầu Xác định được tính kháng của rầy nâu của một số giống lúa. Xác định được diễn biến mật độ của rầy nâu trên một số giống lúa trồng phổ biến ngoài đồng ruộng vụ đông xuân tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2021. Xác định đặc điểm sinh học của quần thể rầy nâu nuôi trên một số giống lúa.
3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Nghiên cứu ở ngoài nước về rầy nâu Nilaparvata lugens 2. Vị trí phân loại, phân bố, ký chủ, phương thức gây hại * Vị trí phân loại Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal được coi là một trong những đối tượng nguy hiểm gây hại trên lúa. Rầy nâu còn được gọi là muội nâu có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal.
thuộc giống Nilaparvata, giới Animalia, lớp Insecta họ rầy Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh đều Homoptera. Rầy nâu được Stal đặt tên đầu tiên vào năm 1854 là Delphax lugens Stal. Sau đó được đổi tên thành Nilaparvata bởi Muir và Giffard năm 1924. *Phân bố, ký chủ Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước ở đồng bằng nhiệt đới Á châu như Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, đảo Solomon, Indonesia, Fiji, Malaysia, Nhật, Phillipines, Thái Lan, Sri Lanka, Tân Guinea, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam., châu Đại Dương một vài đảo ở Thái Bình Dương (CABI.
Ở Nhật Bản đã ghi nhận có 29 loài ký chủ phụ của rầy nâu, nhưng ký chủ phụ quan trọng hơn cả là lúa dại, cỏ môi (V. Ngoài lúa rầy nâu còn có thể sống trên lúa hoang, cỏ Leersia Japonica, cỏ gấu, cỏ lồng vực cũng đôi khi bị rầy nâu tấn công nhưng các quần thể rầy nâu này không phát triển được trên cây lúa. Sự gây hại của rầy nâu Ở Ấn Độ theo Krishnaiah (2014) cho biết rầy nâu xuất hiện trên lúa từ năm 1900, nhưng thiệt hại trên diện rộng đã được báo cáo lần đầu tiên tại đây vào năm 1972 ở khu vực Kuttanad của Kerala. 4 Từ năm 1973 trở đi, sự xuất hiện và thiệt hại của nó trên các cánh đồng rộng lớn của nông dân được ghi nhận ở đồng bằng Krishna-Godavari của Andhra Pradesh, đồng bằng Cauvery của Tamil Nadu, đồng bằng Tungabhadra của Karnataka, đồng bằng Mahanadi của Orissa và các khu vực rộng lớn ở Tây Bengal đặc biệt là vùng Chinsurah.
Một vài giống kháng đã được nhân rộng trên quy mô lớn, dẫn tới giảm thiệt hại do rầy nâu. Từ năm 2005-2006, rầy nâu xuất hiện lẻ tẻ ở Bihar, Jharkhand, Uttar Pradesh, Haryana và Punjab. Từ 2007-2008 trở đi, rầy nâu là dịch hại số một trong toàn bộ vành đai Indo-Gangetic trải dài từ Tây Bengal, Bihar, Jharkhand, Uttar Pradesh, Haryana và Punjab, còn WBPH có mặt với số lượng thấp (DRR, 2010). Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy nâu Rầy trưởng thành và rầy non dùng miệng chích hút dịch cây.
Bị nhẹ các lá dưới héo. Bị nặng gây hiện tượng cháy rầy cả ruộng khô héo màu tái trắng. Trong quá trình chích hút rầy nâu có tiết ra chất bài tiết, đây cũng là một chỉ số đáng tin cậy cho tính kháng, nhiễm rầy nâu của cây. Để đo số lượng chất bài tiết của rầy tiết ra có thể dựa vào diện tích hoặc khối lượng.
Theo nghiên cứu của Dung Wiangshie (1977-1979) ghi nhận mật độ rầy nâu tăng lên phụ thuộc vào gió. Bằng cách sử dụng một cái bẫy được thiết kế đặc biệt gắn vào đáy máy bay, chín loài rầy đã được thu thập tổng số rầy thu được là 2102 con, trong đó có 946 rầy nâu, chiếm 45%. Uớc tính rằng vào mùa hè, mật độ cao nhất của rầy nâu là 4,80/1000m3; vào mùa thu, mật độ cao nhất của rầy nâu là 3,89/1000m3. Wing YAO & cs (2014).
đã sử dụng thiết bị cầm tay để dễ dàng chụp ảnh rầy trên thân cây lúa và một phương pháp tự động để đếm số rầy trên cây lúa dựa trên xử lý hình ảnh. Sử dụng phương pháp này để phát hiện và đếm rầy nâu trên hình ảnh cây lúa và đạt tỷ lệ phát hiện 85,2% và tỷ lệ phát hiện sai 9,6%. 5 Soundararajan (2004) cho biết diện tích chất bài tiết trên giấy lọc có nhúng dung dịch ninhydrin-acetone của giống giống Ptb33 là 36 ± 4.4mm2, trong khi giống TN1 là 682 ± 31.8 mm2, IR64 và Azucena lần lượt là 448. Khối lượng chất bài tiết của PTB33 là 3.1mg, TN1 là 9,2±0,3; IR64 là 8.6mg, Azucena là 6,0±0,1mg.
Trưởng thành rầy nâu hoạt động từ 10-32°C. Thời gian sống của trưởng thành là 10-20 ngày trong mùa hè và 30-50 ngày trong mùa thu. Thời gian tiền đẻ trứng của con cái là 21 ngày ở 20°C, và chỉ 3 ngày nếu ở 30°C. Ngoài đồng ruộng thời gian tiền đẻ trứng là 3-10 ngày, nhưng từ 1-6 ngày khi nhiệt độ dao động từ 20-30°C.
Ở Nhật Bản, số lượng trứng trên một ổ là 2-3 quả nhưng Viện Nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng một ổ có 4-10 quả trứng. Con cái có thể đẻ 300-350 trứng. Nhiệt độ thích hợp cho trứng nở là 27°C, và không nở ở nhiệt độ 33. Tốc độ phát triển của trứng và rầy non phát triển là 27-28°C.
Rầy tuổi 4, tuổi 5 hoạt động ở 12-31°C (Pathak, 1977). Biến đổi khí hậu, đặc biệt khi nhiệt độ ấm dần lên, làm ảnh hưởng đến sinh lý, hành vi và sự phát triển cũng như phân bố và đa dạng của các loài côn trùng, thể hiện số thế hệ trong một năm, tăng khả năng sống sót qua đông và xuất hiện sớm hơn ở một vài loài côn trùng.