Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH LIÊU 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí Bình Liêu xưa thuộc châu Tiên Yên của phủ Hải Ninh, tỉnh Quảng Yên. Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Châu Tiên Yên: ở cách phủ 114 dặm về phía tây, đông tây cách nhau 84 dặm, nam bắc cách nhau 120 dặm; phía đông đến địa giới châu Vạn Ninh 25 dặm, phía tây đến địa giới huyện Hoành Bồ phủ Sơn Định 59 dặm, phía nam đến biển 19 dặm, phía bắc đến địa giới 2 huyện Yên Bác và Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn và địa giới động Tư Lang châu Thượng Tư nước Thanh 81 dặm…” [32, tr.
Nay Bình Liêu là một huyện biên giới miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lí từ 21026’15” đến 21039’50” vĩ độ Bắc và 107016’20” đến 107035’50” kinh độ Đông. Bình Liêu cách thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 108 km. Phía Đông giáp huyện Hải Hà (Quảng Ninh), phía Tây giáp huyện Đình Lập (Lạng Sơn), phía Nam giáp huyện Tiên Yên, Đầm Hà (Quảng Ninh), phía Bắc có tuyến biên giới dài 42,999 km giáp khu Phòng Thành - thành phố Cảng Phòng Thành và huyện Ninh Minh thành phố Sùng Tả (Quảng Tây - Trung Quốc) với khu Kinh tế cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn, đây là cầu nối giao lưu kinh tế - thương mại giữa các địa phương trong và ngoài tỉnh Quảng Ninh với khu Phòng Thành - thành phố Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Điều kiện tự nhiên Với cấu trúc địa hình đa dạng của miền núi cao thuộc cánh cung bình phong Đông Triều - Móng Cái, địa hình ở đây có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, có một số đỉnh núi cao trên 1000m như đỉnh Cao Ba Lanh (1.113m), đỉnh Cao Xiêm (1.
“Đại Nam nhất thống chí” và “Đồng Khánh địa dư chí” đã ghi chép về một số ngọn núi ở đây: Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 7ĐHTN http://www.vn c Núi Ma Đao: “Ở xã Lục Hồn, phía Tây Bắc đến Tiên Yên, rất cao dốc, lại đối với núi Nẫm Sơn, núi Khâu Ca, đều giáp châu Thượng Tư nước Thanh, có ải” [33. Núi Long Tu: “Ở phía Tây châu Vạn Ninh, chỗ phân giới của hai châu Tiên Yên và Vạn Ninh, dưới có khe là chỗ phát nguyên của một nhánh sông Phong Dụ, gần đấy có núi Trạc Sơn, có đường đi” [33, tr. Núi Phong Lậu: “Ở địa phận xã Hoành Mô, dưới núi có hang, gió thổi rất mạnh, người không thể đứng vững được trước gió.” Núi Khưu Ca: “Ở địa phận xã Tình Húc. Eo núi có ải, là chỗ giáp giới châu Thượng Tư tỉnh Quảng Tây nước Thanh”… Địa hình ở đây xưa kia rất hiểm trở, núi non trùng điệp, ải nối tiếp nhau: Ải Bắc Cương: “Ở địa phận xã Hoành Mô, giáp giới châu Thượng Tư phủ Nam Ninh tỉnh Quảng Tây nước Thanh; là đường hai bên nam bắc qua lại nên không đặt đồn phòng thủ”.
Các ải bên dưới cũng như thế. Ải Quỷ Ma: “Ở địa phận xã Hoành Mô”. Ải Đối Nẫm: “ Ở địa phận xã Đồng Văn”. Ải Na Đương: “Ở địa phận xã Đồng Tâm”.
Ải Ma Đao: “Ở địa phận xã Lục Hồn”. Ải Khưu Ca: “Ở địa phận xã Tình Húc” [40, tr. Ngày nay, cấu trúc địa hình Bình Liêu cũng phân dị bị chia cắt mạnh, có thể khái quát thành 3 tiểu vùng: - Tiểu vùng núi thấp và trung bình Tây Bắc sông Tiên Yên: Độ cao trung bình trên 600m, gồm phần nửa các xã Vô Ngại, Tình Húc, Lục Hồn, Đồng Tâm, Hoành Mô. Địa hình bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều dãy hướng núi, có nhiều đỉnh núi cao 800 - 1000m dọc trên đường biên giáp Trung Quốc.
Độ dốc bình quân khoảng 300. Đất đai bị xói mòn, rửa trôi khá mạnh, phần lớn là đồi trọc hoặc cây lùm bụi, cỏ tranh. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 8ĐHTN http://www.vn c - Tiểu vùng núi thấp và núi trung bình Đông Nam: Độ cao trung bình khoảng 600 - 700m, độ dốc bình quân khoảng 25 - 28 0, gồm các xã Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc. Đặc điểm của cấu trúc địa hình khá phức tạp, tạo thành các dãy núi lớn có nhiều đỉnh cao trên 1000m.
Những dãy núi cao nằm trên đường phân thủy huyện Bình Liêu với huyện Hải Hà, Đầm Hà. Đất đai của tiểu vùng chưa bị thoái hóa nhiều, có những điểm tương đối bằng dưới 150, có thể trồng các loại cây đặc sản như hồi, quế, sở. - Tiểu vùng đồi núi thấp và thung lũng ven sông Tiên Yên: Từ Đồng Văn đến Vô Ngại theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, độ cao trung bình khoảng 300 - 400m, độ dốc thấp dưới 150. Tiểu vùng này chủ yếu là đồi thấp, dốc thoải, nhiều ruộng bậc thang, chủ yếu sử dụng để sản xuất nông nghiệp.
Khí hậu đặc trưng miền núi phân hóa theo độ cao đã tạo ra những tiểu vùng sinh thái nhiệt đới và á nhiệt đới: Nhiệt độ trung bình trong năm dao động từ 180C - 280C, nhiệt độ trung bình cao nhất vào mùa hè là 32 0C - 360C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào mùa đông là 50C - 150C. Mùa đông kéo dài và có sương muối, độ ẩm cao. Lượng mưa hàng năm khá cao, bình quân từ 2000 - 2600mm/ năm nhưng không điều hòa, hình thành hai vùng mưa. Sườn đông các dãy núi có lượng mưa nhiều hơn, thường lớn hơn 2100mm.
Sườn tây các dãy núi có lượng mưa thấp hơn, có nơi xuống dưới 1400mm. Mưa ở Bình Liêu được phân thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài trong 5 tháng từ tháng 5 đến hết tháng 9, mưa tập trung chiếm đến 75 - 80% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 và tháng 8. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm từ 20 - 25% tổng cả năm, tháng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1.
Sách “Đồng Khánh địa dư chí” ghi chép: “Bốn mùa thì lạnh rét đến quá nửa. Duy mùa hè khoảng tháng 5, tháng 6 thì nóng nực, khí đất bốc cao, phần nhiều gây ra khô nóng… Khí lam chướng khá nặng, những người hay tiếp xúc phần nhiều bị sốt rét” [40, tr. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 9ĐHTN http://www. Tài nguyên thiên nhiên Bình Liêu có nhiều sông suối nhỏ, ngắn và dốc hội tụ chảy tập trung vào sông Tiên Yên, bắt nguồn từ vùng biên giới Việt - Trung, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, có độ dốc lớn, khúc khuỷu, nhiều thác ghềnh, sự phân phối dòng chảy không đều trong năm.
Một số con sông được ghi vào sử sách: Sông Phong Dụ: “Ở phía Đông châu, có 3 nguồn: một từ khe núi Nẫm Thủy nước Thanh chảy về phía Tây Nam, một từ núi Bắc Cương chảy về phía Tây Nam, một từ khe núi Long Tu chảy về phía Đông Nam, đều đến xã Hoành Mô mà hợp nhau, qua các xã và phố Đồng Tâm, Lục Hồn, Bình Liêu đến xã Vô Ngại có sông Báo Chi từ khe núi xã Bác Lãng ở phía Tây đến đổ vào, lại chảy về phía Nam qua xã Phong Dụ, đến xã Hải Lãng thì hợp với hai sông Thác Than và Ba Chẽ gọi là sông Tam Trĩ, đổ ra cửa Tiên Yên. Xét sông này từ xã Phong Dụ trở lên thì trong sông có nhiều đá khó đi thuyền” [33, tr. Sông Tiên Yên: “… Sông có 3 nguồn: một từ các khe nhỏ ở vùng núi huyện Yên Bác tỉnh Lạng Sơn chảy xuống. Một nguồn từ địa giới châu Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn chảy qua các xã Kiên Mộc, Định Lập, hợp dòng với sông Trĩ Viện, thẳng đến đổ vào sông Thác Than.
Một nguồn từ các khe nhỏ ở vùng núi phủ Hải Ninh, chuyển về phía tây bắc, đến địa phận tổng Kiến Diên hợp dòng với các khe nhỏ, chảy đến xã Phong Dụ rồi xuôi xuống” [40, tr. Về đất đai, với diện tích đất tự nhiên 47.510,05 ha, tính đến năm 2013 huyện đã đưa vào sử dụng 40.593,28 ha, chiếm 85,44% diện tích đất tự nhiên, bao gồm đất nông nghiệp 38.950,62 ha chiếm 81,98% diện tích đất tự nhiên và đất phi nông nghiệp chiếm một diện tích nhỏ 1.642,66 ha được sử dụng chủ yếu vào mục đích xây dựng công trình dân sinh, đường giao thông, công trình thủy lợi… Ngoài ra còn một diện tích lớn đất chưa sử dụng 6.916,77 ha, chiếm 14,56% diện tích tự nhiên. Trong đó có đến 99,34% đất chưa sử dụng của Bình Liêu là đất đồi núi bạc màu, có độ dốc lớn, bị chia cắt và xa khu dân cư, điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho huyện trong việc mở rộng thêm diện tích đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn tiếp theo. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu –10ĐHTN http://www.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Liêu năm 2013 Chỉ tiêu Tổng số (ha) Cơ cấu (%) Diện tích 47.510,05 100 Đất nông nghiệp: 38.950,62 81,98 Đất sản xuất nông nghiệp 4.248,33 8,94 Đất trồng cây hàng năm 3.529,11 3,22 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 1.725,00 3,63 Đất trồng cây lâu năm 693,17 1,46 Đất lâm nghiệp có rừng 34.683,78 73,00 Rừng sản xuất 20.159,41 42,43 Rừng phòng hộ 14.524,37 30,57 Đất nuôi trồng thuỷ sản 14,51 0,03 Đất nông nghiệp khác 4,00 0,01 Đất phi nông nghiệp: 1.642,66 3,46 Đất ở 144,26 0,30 Đất ở đô thị 27,28 0,06 Đất ở nông thôn 116,98 0,25 Đất chuyên dùng 527,80 1,11 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 5,76 0,01 Đất quốc phòng, an ninh 76,87 0,16 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 62,93 0,13 Đất chưa sử dụng: 6.916,77 14,56 Đất bằng chưa sử dụng 45,31 0,10 Đất đồi núi chưa sử dụng 6.132] Bình Liêu là huyện tương đối nghèo khoáng sản.
Huyện có một mỏ vàng hàm lượng thấp, trữ lượng ít ở dọc biên giới Việt - Trung; chì, kẽm ở Ngàn Phe; đá hoa cương dọc trên dãy núi Cao Xiêm chạy dài từ xã Đồng Văn đến xã Húc Động nhưng chưa có khả năng khai thác. Ngoài ra Bình Liêu còn có khối lượng cát, đá, sỏi ở dọc sông Tiên Yên với độ dài hơn 60 km; mỏ cao lanh ở xã Vô Ngại, Đồng Tâm. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu –11ĐHTN http://www.vn c Tài nguyên du lịch ở đây khá phong phú, Bình Liêu có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng gắn với các trung tâm du lịch lớn. Với phong cảnh miền núi tươi đẹp: cánh đồng bậc thang, rừng hồi rừng quế thơm ngát, hoa sở trắng, suối reo, nhà sàn lưng đồi.
Đặc sắc nhất là thác Khe Vằn ở Húc Động, thác cao gần 100m, theo ba tầng vách núi đổ xuống trắng xóa giữa cỏ cây chen đá.