mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến Ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách. khách hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phi) da gop phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. GVHD: Hồ Nhật Mai Trâm 6 SVTH: Đặng Thanh Sane Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ATM của Sacombank chỉ nhẳnh Phú Quốc Khi Ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua Ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn.
Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng để nhờ Ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, đã phát triển các hình thức thanh toán mới băng điện tử. Quản lý Ngân quỹ: Các Ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và cá nhân. Nhờ đó, Ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng.
Do có kinh nghiệm trong quản lý Ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều Ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý Ngân quỹ, trong đó Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chỉ cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phan thang dư tién mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Tài trợ các hoạt động của chính phủ: Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của Ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của chính phủ. Do nhu cầu chỉ tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ, chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Ngày nay, Chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các Ngân hàng.
Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các Ngân hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiên mà Ngân hàng huy động được. Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của Ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do Ngân hàng năm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên Ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gân đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh.
Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tô chức tín dụng khác. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn: Nhằm đê bán các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thê mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều Ngân hàng tích cực cho khách hàng lựa chọn thuê các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua.
trong đó Ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy cho thuê của Ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. GVHD: Hỗ Nhật Mai Trâm 7 SVTH: Đặng Thanh Sang Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ 4TM của Sacombank chỉ nhánh Phú Quốc Ắ.ờơờờợơơờơờơờợờợờợờợờợnngunnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnn Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ.
Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ. ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư. Thậm chí, các Ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bồ tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi Ngân hàng như một chuyên gia tư van tài chính.
Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập. sáp nhập doanh nghiệp. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tr chứng khoán: Nhiều Ngân hang dang phan dau cung cấp đủ cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các Ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác.
Trong một vài trường hợp, các Ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới. Cung cấp dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay, các Ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động. mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh với các công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm găn với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm Phù Đồng,.
Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiéu Ngân hang trong quá trình hoạt động không thê thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều Ngân hàng (thường Ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ Ngân hàng đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ. phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi. làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
Giới thiệu chung về thẻ thanh toán. Sự ra đời và phát triển của thẻ trên thế giới. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng vì thế phát triển mạnh, qua đó nhu cầu thanh toán nhanh chóng và thuận tiện trở thành một yêu cầu của khách hàng đối với Ngân hàng. Điều này gây áp lực lên các Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán của mình nhăm cung cấp cho khách hàng dịch vụ thanh toán tốt nhất.
Cũng trong thời gian đó, khoa học kỹ thuật thế giới đã có những bước tiễn đáng kế trong lĩnh vực thông tin. tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát triển và hoàn thiện phương thức thanh toán GVHD: Hỗ Nhật Mai Trâm 8 SVTH: Dang Thanh Sang Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ATM của Sacombank chỉ nhánh Phú Quác el của mình, trong đó phải kế đến sự ra đời và phát triển của hình thức thanh toán băng thẻ. Những hình thức sơ khai của thẻ xuất hiên lân đầu ở Mỹ vào những năm 1920 dưới cái tên tạm gọi là “đĩa mua hàng” (shooperˆs plate). Người chủ sở hữu của loại “đĩa” này có thể mua hàng tại cửa hiệu phát hành ra chúng và hàng tháng họ phải hoàn trả tiền cho chủ cửa hàng vào một ngày cố định, thường là cuỗi tháng.
Thực chất ở đây chính là việc người chủ cửa hàng đã cấp tín dụng cho khách hàng băng cách bán chịu, mua hàng trước và trả tiên sau. Tuy nhiên, thẻ Ngân hàng lại ra đời một cách ngẫu nhiên vào năm 1940 với tên gọi đầu tiên là thẻ DINNERS CLUB do ý tưởng của một doanh nhân người Mỹ là Frank Me Namara. Năm 1950 chiếc thẻ nhựa đầu tiên được phát hành, những người có thẻ DINNERS CLUB này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5USD. Những tiện ích của chiếc thẻ ngay lập tức gây được sự chú ý và đã chinh phục một lượng đông đảo khách hàng đo họ có thể mua hàng trước mà không cân phải trả tiền ngay.
Còn đối với những nhà bán lẻ, tuy phải chịu mức chiết khẩu là 5% nhưng doanh thu của họ tăng đáng kế do lượng khách hàng tiêu dùng tăng lên rất nhanh. Đến năm 1951, hơn I triệu đôla được ghi nợ, doanh số phát hành thẻ ngày càng tăng và công ty phát hành thẻ DINNERS CLUB bắt đầu có lãi. Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra ngay sau đó đã nhanh chóng đưa thẻ trở thành một phương tiện thanh toán mang tính toàn cầu. Tiếp nối thành công của the DINNERS CLUB, hàng loạt các công ty thẻ như Trip Change, Golden Key.
Phần lớn các thẻ này trước hết được phát hành nhằm phục vụ giới doanh nhân, nhưng sau đó các Ngân hàng nhận thấy răng giới bình dân mới là đỗi tượng sử dụng thẻ trong tương lai. Nam 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là BANKAMERICARD. Đến năm 1966, 14 Ngan hang hang đầu của Mỹ thành lập Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đối các thông tin về giao dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 Ngân hàng bang California đổi tên từ Bank Card Association thành Western State Bank Card Association và tổ chức này đã liên kết với Interbank cho ra đời thẻ MASTER CHARGE, loại thẻ này đã nhanh chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD.
Đến năm 1977, tổ chức BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USD và sau đó là tổ chức thẻ quốc tế VISA. Năm 1979, t6 chtre thé MASTER CHARGE doi tên thành MASTER CARD. 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển nhất trên thế giới. Hình thức thanh toán thẻ nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi ở các châu lục khác ngoài Mỹ, năm 1960 chiếc thẻ nhựa đầu tiên có mặt tại Nhật báo hiệu sự phát triển của thẻ ở Châu Á.
Chiếc thẻ nhựa đầu tiên do Ngân hàng Barcaly Bank er msararnarniemmamemmmmmenapacmnasnntiiiiod GVHD: H6 Nhat Mai Trâm 9 SVTH: Dang Thanh Sang Giải pháp phái triển hoạt động kinh doanh thẻ ATM của Sacombank chỉ nhảnh Phú Quốc el phát hành ở Anh năm 1966 cũng mở ra một thời kì sôi động cho hoạt động thanh toán thẻ tại Châu Au. Tại Việt Nam, chiếc thẻ đầu tiên được chấp nhận là vào năm 1990 khi VCB kí hợp đồng làm đại lí chỉ trả thẻ VISA với Ngan hang Phap BFCE va day đã là bước khởi đầu cho dịch vụ này phát triển ở Việt Nam.