Đặt vấn đề Ngày 14/6/2005, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (Luật ĐUQT 2005) gồm 9 Chương và 107 Điều nhằm thay thế Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc. ngày 20 tháng 8 năm 19982 Bên cạnh mục đích bảo đảm phù hợp với sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) về thẩm quyền ký. ết, gia nhập điều ước quốc tế, với hiệu lực pháp lý là văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Luật DUQT 2005 được kỳ vọng đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Đồng thời, Luật DUQT 2005 cũng hướng tới mục đích đáp ứng yêu cầu phù hợp với Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên từ 2001 và hoàn thiện khung pháp luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam hậu.) “Trong quá trình soạn thảo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước.
quốc tế, một trong những vn đề được Ban soạn thảo cũng như đại biểu Quốc hội quan tâm thảo luận nhiều nhất là khái niệm điều ước quốc tế." Bởi vì, thứ nhát, Phố tướng ping Quên lý ho bọc l 2iu 107, Laity kế gi np à thực hiện đu we ube 205, Xem him, Th Que ha 13991CP-PC củ Chi phì ogy 179về 200Dy a Lat 4 ý kế, ga nhập và tiệc Ben iu nó mu lệ ge ‘Xen Tờ 13)2/CvẻPSC hơn vi ib chin của Lats Xem Tung nbọc(Văn ông Quốc hộ) Bin đập Đơn bến báo lun vẻ Hội trờng (hi ho bảng gân) ông ney 132005 Da 8 dự ẫu ph ic đột cáp dép đền hà ie oe gue 1 khái niệm “điểu ước quốc tế” là một khái niệm “đinh” của pháp luật bắt kỳ quốc. gia nào về điều ước quốc tế. Việc xác định nội hàm của khái niệm, xây dựng một định nghĩa rõ ràng, hợp lý là yêu cầu đầu tiên để xác định phạm vi áp dụng của. văn bản luật về điều ước quốc tế cũng như xác định rõ những thỏa thuận quốc tế nào sẽ phải áp dụng các trình tự, thủ tục luật định khi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập hoặc thực hiện điều ước quốc tế, Thur had, quan niệm vẻ điều ước quốc.
tế của một quốc gia cũng chính là một trong những căn cứ để các chủ thé cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp xác định rõ rằng giá trị hiệu lực của thỏa thuận quốc tế, đặc biệt trong trường hợp có tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến chính các thỏ thuận quốc tế đó. Đánh giá cao ý nghĩa khoa học và đặc biệt ý nghĩa thực tiễn của khái niệm điều ước quốc tế và phân loại điều ước quốc tế với Việt Nam, tác giả lựa chọn nghiên cứu những bắt cập liên quan đến khái niệm, phân loại điều ước quốc tế theo Luật BUQT 2005. Mục đích bài tham luận này là phân tích đánh giá các bắt cập của khái niệm và phân loại điều ước quốc tế. Vì vậy, tham luận nảy sẽ tập trung (i) phân.
tích sự phát triển của khái niệm điều ước quốc tế trong Luật DUQT 2005; (ii) phân tích và đánh giá nội hàm khái niệm để chỉ ra wz điểm va hạn chế của định nghĩa và (iii) phân tích các phương án tiếp cận khái niệm mới về điều ước quốc. tế và (iv) một số kiến nghị để hoàn thiện hơn định nghĩa mà các nhà soạn thảo luật đưa ra, đặc biệt chỉ ra các tiêu chí cần thiết để một điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam cẩn phái đáp ứng. 1, Khái niệm “điều ước quốc t& theo Luật DUQT 2005 - tiệm cận quan điểm cia Công ước Vien 1969 về Luật điều rớc quốc tế và đặc thù của Việt Nam Khon 1, Điều 2, Luật DUQT 2005 đã định nghĩa: 19 “Điu ước quốc 16 mà Cộng hòa xã hội chủ nghữa Việt Nam kj két hoặc gia nhập là hỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân dank Chính phủ nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vbi một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc té hoặc chủ thé khác của pháp luật quốc tê Rhing đhụ Pye vào tôn 0% là hiệp ác, công óc, hip định, định tóc, thỏa thuận, nghị định tne, bản ghỉ mh’, cổng hàm trao đổi hoặc win kiện cổ tên gọi Khác.” ‘Nhu vậy, theo quan điểm của Việt Nam, điều ước quốc tế phải thể hiện rõ các đặc trừng () thể hiện ý chí tự nguyện thoả thuận của Việt Nam với các chủ thể của luật quốc tế thông qua hành vi ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế; (ii) là thoả thuận quốc tế bằng văn bản giữa Việt Nam và các chủ thể khác của Luật quốc tế không phụ thuộc vào tên gọi sia điều ước; (iii) được ký kết nhân danh. ‘Nha nước hoặc nhân danh Ci inh phủ.
"Phân tích khái niệm điều ước quốc tế được cụ thể hoá trong thuật ngữ điều ước quốc tế trong Luật DUQT 2005, chúng ta nhận thấy rằng: Thứ nhất, khái niệm điều ước quốc tế trong Luật DUQT 2005 đã tiệm cận khái niệm điều ước quốc tế trong luật quốc tế, đặc biệt trong Công ước Viên. 1969 về Luật điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. lệc các quốc gia, trong đó có Việt Nam xây dựng khái niệm điều ước quốc tế phù hợp với Công. ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế không chỉ là yếu tố hợp lý ma là bắt buộc trên nguyên tắc Pacta sunt servanda khi Việt Nam là thành viên Công ước.
Mặc dù, hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế là hoạt động thực. hiện chức năng đối ngoại của quốc gia, tuy nhiên, khi quốc gia đã tự nguyện ky kết điều ước quốc tế, tự nguyện rằng buộc với các quyền và nghĩa vụ pháp luật quốc tế phát sinh tir tước, các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện các quyền va nghĩa vụ điều ước này. Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế không còn là một nghĩa vụ được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia ma là nghĩa vụ được điều chỉnh. bởi pháp luật quốc tế.
Hành vi thực hiện điều ước quốc tế của quốc gia, mặc dù 2 diễn ra trong phạm vi lãnh thé quốc gia nhưng có giá trị pháp lý quốc tế. Khi quốc gia không thực hiển điểu ước quốc tế, quốc gia sẽ phải chịu trách nhiệm. pháp lý quốc tế vì bành vị không thực hiện nghĩa vụ nay, Vì vậy, cần có một. cách hiểu thống nhất về điều ước quốc tế trong pháp luật quốc tế cũng như pháp.
luật quốc gia. Thực tiễn xây dựng pháp luật về điều ước quốc tế của các abe gia khác, vi dụ Liên bang Nga cũng đã thé hiện xu thé xây dựng khái niệm quốc tế trên cơ sở khái niệm điều ước quốc tế của Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế. Quan niệm vẻ điều ước quốc tế trong Luật DUQT 2005 đã có sự thay đổi lớn so với quan niệm về điều ước quốc tế trong Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam năm 1989 (sau đây gọi là Pháp lệnh DUQT 1989)” và Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế (sau đây gọi là Pháp lệnh 1998)“ Với việc loại trừ các thoà thuận Bộ, ngành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao ra khỏi khái niệm điều ước quốc tế, khái niệm điều ước quốc tế trong Luật DUQT năm 2005 đã thực sự tiệm cận với quan điểm quốc tế về điều ước quốc tế, đặc biệt là quan điểm của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế. Thứ hai, khái niệm điều ước quốc tế của Việt Nam không phải là sự sao chép một cách cứng nhắc thuật ngữ điều ước quốc tế được giải thích trong Công.
Trên thực tế, các nhà làm luật Việt Nam đã vận dụng quan điểm. về điều ước quốc tế trong Công ước Viên 1969 một cách hợp lý, đồng thời phù. hợp với truyền thống và thực tiễn ký kết điều ước quốc tế của Việt Nam. “toi Dib? Pp ah ih ng."Điu ước quốc tế mà nước Cộng bo xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tà mặ bản ký 28%, đưới đây gợi aida ước a ha lng vo bạ ars A/ nae lng oi ch ela Vi Nah vt hoe situ giấc gio chic quc tổ hoe chủ the khác cba hấp luật qubct,Khog phụ thge vio tê gọi như biện tiếc công ước, định ước, gp inh nghị dinh thơ, công hôm rao As vã đạnh nghĩ ký kết quy định tị khoản 2 Điều | của Phip lnh nà a Thứ ba, khái niệm thể hiện trong Luật DUQT 2005 đã khẳng định rõ rang bản chất của điều ước quốc tế giữa Việt Nam và các chủ thể khác của Luật quốc tế là thoả thuận bằng văn bản, kết quả của quá trình thương lượng trên cơ sở tự nguyện và bình #fing, kết quả của sự tự do thé hiện ý chí giữa Việt Nam và các chủ thé khác của pháp luật quốc tế từ đó làm phát sinh các quyển và nghĩa vụ pháp luật quốc tế rằng buộc các chủ thể của điều ước.
Thứ tr, khái niệm này cũng đã khẳng định rõ quan điểm của Việt Nam chỉ thừa nhận các thoả thuận bằng văn bản là các điều ước quốc tế và không thừa nhận các “thoả thuận miệng” (còn được gọi là “điều ước quân tử”) là điều ước quốc tế. Như vậy, chỉ có các thoá thuận bằng vin bản mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể của thoả thuận, còn các thoả thuận miệng có thé coi như các thoả thuận mang tính chất “đạo đức” hoặc chính trị mà về pháp lý. trị bất buộc không có giá Thứ năm, khái niệm này đã thé hiện đặc trưng truyền thống của pháp luật ‘Vigt Nam về ra về quản lý hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Việt Nam cũng xác định và phân biệt hai loại điều ước theo danh.
nghĩa ký kết đó là điều ước ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước và điều. ước quốc tế nhân danh Chính phủ. Thứ sáu, khái niệm điều ước quốc tế được ghi nhận trong Luật DUQT 2005 có phạm vi áp dụng khá rộng trên thực tiễn vì được áp dụng đối với tắt cả các điều ước quốc tế của Việt Nam, kể cả các điều ước qt phic tạp về nội dung hoặc da dang về đối tác, cách thức đảm phán, ví dụ như các Hiệp định TPP hoặc FTA thé hệ mới với EU.