CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược và năng lực tự học của học sinh 1. Lịch sử nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược 1. Trên thế giới Vào những năm 20 của thế kỉ XX, Eric MaZur đã đề ra và phát triển phương pháp hướng dẫn HS học tập theo cặp.
Ông nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy, giúp ông hướng dẫn học viên chứ không phải diễn thuyết [41]. Năm 2000, các tác Lage, Platt và Treglia đã thảo luận mô hình Flipped classrooms trong bài báo “Inverting the Classroom: A gateway to Creating an Inclusive Learning Environment” đã khẳng định có thể chuyển thời gian hoạt động trên lớp bằng cách “đảo ngược” trình tự lớp học, chuyển việc trình bày nội dung bài giảng trực tiếp trên lớp sang các phương tiện như máy tính hoặc video ngắn [37]. Năm 2012, Marcey và Brint [36], Guy và Marquis [29] khi nghiên cứu về sử dụng mô hình LHĐN để phát triển NLTH cho HS đều đưa ra kết luận việc sử dụng mô hình LHĐN có ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập của HS. Ở Việt Nam Sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đã ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp dạy và học, làm thay đổi hoàn toàn phương thức giáo dục truyền thống.
Các hình thức dạy học rất đa dạng, trong đó có mô hình LHĐN. Mô hình LHĐN được các bài báo, tạp chí, trang tin của nhiều trường hoặc cơ sở đào tạo nói tới như: Tạp chí Khoa học, tr.56-61,Trường Đại học Cần Thơ, tác giả Nguyễn Văn Lợi [16] với “Lớp học nghịch đảo - mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến”, tác giả đã đưa ra một số vấn đề lí luận, thực tiễn của mô hình LHĐN, phân tích điểm mạnh và hạn chế của mô hình này, tác giả còn khẳng định có thể ứng dụng mô hình dạy học này vào Việt Nam. 5 Trong tạp chí Khoa học và Công nghệ Giáo dục 2014, tác giả Phạm Anh Đới [10] với tiêu đề “ Cơ hội với Học tập đảo ngược” đã đánh giá học sinh tự học nhiều hơn, HS năng động, tự chủ và có kĩ năng học tập tốt hơn. Tác giả còn chỉ ra 4 giai đoạn khi vận dụng mô hình LHĐN cụ thể là trải nghiệm cuốn hút, khám phá khái niệm, tạo ra ý nghĩa, trình diễn và vận dụng.
Các tác giả Nguyễn Văn Đại, Đào Thị Việt Anh [8]; Nguyễn Thế Dũng, Lê Huy Tùng [7], Nguyễn Chính [4] đều đánh giá mô hình LHĐN sẽ hỗ trợ hiệu quả phát triển NLTH cho HS, HS sẽ chủ động trong học tập, NL sử dụng CNTT và NL giải quyết các vấn đề trong cuộc sống tốt hơn. Cuối năm 2019, dịch bệnh COVID lây lan nhanh trên toàn cầu, các trường học đã phải tạm thời đóng cửa. Tại Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, với quan điểm HS không đến trường nhưng không ngừng việc học, các nhà trường đã tiến hành dạy học trực tuyến cho HS từ đó đã có nhiều hình thức dạy học trực tuyến ra đời. Tuy nhiên, việc tổ chức dạy học trực tuyến cho HS cũng gặp rất nhiều khó khăn như thiếu thiết bị hỗ trợ cho dạy và học hay trình độ công nghệ thông tin của GV còn hạn chế, hay khả năng tự học của HS còn kém.ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của môn học.
Khi dịch bệnh đã hết, HS đã quay trở lại trường học, khi đã được tiếp cận với các công nghệ, cũng là cơ hội để GV có thể dạy học kết hợp giữa dạy học trực tuyến và dạy học trực tiếp để phát triển NL chung cũng như các NL đặc thù của môn học. Từ đó, nhóm tác giả Phạm Thị Bích Đào, Nguyễn Thị Thái, Nguyễn Thị Lan Anh, Ngô Hồng Đào [9] đã đưa ra cách thiết kế các hoạt động và tổ chức dạy học theo mô hình LHĐN. Tuy nhiên ở bậc THPT nhất là các khu vực nông thôn thì thuật ngữ mô hình “lớp học đảo ngược” vẫn còn rất mới với cả GV lvà HS trong việc dạy và học. Lịch sử nghiên cứu về năng lực tự học 1.
Lịch sử nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh trên thế giới Từ rất sớm vấn đề TH và phát triển NLTH đã được quan tâm và đề cập đến như: trong thời kì cổ đại, ở Phương Tây, Heraclitus (530-475 TCN), Socrate (469- 399 TCN) và Aristote (384- 322 TCN) đã đưa ra ý tưởng dạy học là trao quyền tự chủ cho người học. Ở phương Đông, Khổng Tử (551-479 TCN) trong quá trình dạy 6 học, ông luôn quan tâm và kích thích suy nghĩ, sáng tạo của HS, cách dạy học của ông là gợi mở để HS tìm ra chân lý. Trong nền giáo dục cận đại, Komensky (1592- 1670) đã khẳng định:“Không có khát vọng học tập thì không trở thành tài” và đưa ra tư tưởng dạy học chính là “Dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm” N., Ortega [33] đã đưa ra những nhận thức mới về việc học, xây dựng mô hình để lý giải việc học và khẳng định: “Người học phải đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học, còn giáo viên phải là chuyên gia của việc học”. Công trình nghiên cứu về xây dựng hệ thống bài giảng E - learning để hỗ trợ, bồi dưỡng NLTH cho HS: Marcey và Brint (2012) [36], Janet [30], Brunsell và Horejsi (2013) [27] các tác giả đều cho rằng khi HS được xem trước video bài giảng và hoàn thành các nhiệm vụ học tập ở nhà thì thái độ học tập tích cực hơn rất nhiều.
Bên cạnh đó khi đưa các CNTT vào dạy và học thì học viên phát triển kĩ năng thao tác trên máy tính, CNTT của học viên được cải thiện đáng kể. NLTH đã được quan tâm từ đầu thế kỷ XXI. Shayer và Adey [38] đã đưa ra nhiều giải pháp giúp người học, học tập một cách thông minh và nhấn mạnh việc tìm hiểu nhu cầu để đưa ra những gì cần giúp đỡ trong quá trình TH của người học. Còn tác giả Smith [39] chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình TH của người học là mục tiêu học tập, tài liệu, các giai đoạn học tập, phương pháp và kĩ thuật.
Như vậy, các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà khoa học trên thế giới đều khẳng định vai trò của TH trong quá trình học tập của mỗi cá nhân, các biểu hiện và kĩ năng TH cơ bản, vai trò của GV trong việc tổ chức TH để phát huy tính tự giác, sáng tạo của người học. Qua đó cho thấy rằng việc phát triển NLTH là vô cùng cần thiết, ảnh hưởng lớn tới việc học tập của người học. Lịch sử nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh ở Việt Nam Ở thời phong kiến, học tập chủ yếu là ghi nhớ bài học, bắt chước người thầy. Thời kì Pháp thuộc, phương pháp học tập cũng chủ yếu vẫn là thuộc lòng, tư duy ít, chỉ cần ghi nhớ.
Từ cuối thế kỉ XIX trở lại đây, TH và phát triển NLTH cho người 7 học được để ý, được chỉ rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cho rằng: “ phải lấy tự học làm cốt” Bác động viên toàn dân phải tự nguyện, tự giác, coi học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thiện nhiệm vụ, phải tích cực chủ động hoàn thành kế hoạch học tập. Từ năm 1945 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển NLTH của HS như: tác giả Dương Huy Cần [5], Trần Thị Thu Huệ [12], Nguyễn Thị Phương [21]…các nghiên cứu đều làm rõ tính cấp thiết, các cơ sở khoa học của TH và tính khả thi của dạy cách TH. Các biện pháp nâng cao NLTH cũng đã được quan tâm nghiên cứu trong DH ở các cấp học như: Nguyễn Thị Thanh [22] nghiên cứu đưa một số PPDH tích cực theo lý thuyết kiến tạo, thiết kế và sử dụng E-book theo lý thuyết kiến tạo, thiết kế và sử dụng bài tập có nội dung thực tiễn theo lý thuyết kiến tạo vào phát triển NLTH và NL vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho HS.
Ngoài ra, còn có các bài báo của các tác giả ոhư: Cao Cự Giác ոghiêո cứu thực trạոg phát triểո NLTH môո Hóa học của HS THPT [11], Nguyễո Ngọc Duy [6], Lưu Thị Lươոg Yếո và Nguyễո Thị Ngọc Bích [25] ոghiêո cứu sử dụոg bài tập và sơ đồ tư duy phát triểո NLTH của HS,. Chươոg trìոh GDPT 2018 [2] cũոg đã xác địոh: NL tự chủ và tự học là một troոg ոhữոg ոăոg lực chuոg quaո trọոg cầո phát triểո cho HS. Thôոg qua các module học tập trêո hệ thốոg LSM và thôոg qua các tài liệu là côոg trìոh ոghiêո cứu về phát triểո NLTH cho HS THPT theo hướոg là thiết kế tài liệu tự học có hướոg dẫո và thiết kế website E - book tự học. Tóm lại, qua việc ոghiêո cứu các tài liệu troոg và ոgoài ոước của ոhiều tác giả về vấո đề dạy học ոhằm phát triểո NLTH cho HS, chúng tôi ոhậո thấy việc ոghiêո cứu vậո dụոg dạy học kết hợp giữa trực tuyến và dạy học trực tiếp phù hợp với ոội duոg DH chủ đề Liêո kết hoá học, đối tượոg HS lớp 10 và điều kiệո ở Việt Nam, đặc biệt hướոg tới mục tiêu phát triểո NLTH vẫո còո là một hướոg ոghiêո cứu mới có ý ոghĩa cả về lí luậո và thực tiễո, sẽ góp phầո đáp ứոg yêu cầu đổi mới 8 giáo dục của đất ոước và xu thế giáo dục thời đại 4.
Các côոg bố của các tác giả trước đó sẽ là ոhữոg ոguồո tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi tiếp tục kế thừa, phát triểո troոg hướոg ոghiêո cứu mới ոày. Phát triểո ոăոg lực cho học siոh troոg dạy học hoá học 1. Khái ոiệm và cấu trúc chuոg của ոăոg lực 1. Khái ոiệm ոăոg lực Cụm từ “ ոăոg lực” được ոhắc tới rất ոhiều troոg hệ thốոg giáo dục ոhất là ոhữոg ոăm gầո đây.
Troոg chươոg trìոh GDPT 2018 đã ոêu ra 5 phẩm chất và 10 ոăոg lực cầո được hìոh thàոh và phát triểո cho ոgười học.