CHƯƠNG 1. TÓNG QUAN NGHIÊN CỨU VÈ VẤN ĐÊ BÁO CHÍ VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA VẬT THỂ 1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài 1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài về vai trò của báo chí Theo như Bittner [130] thì báo chí không chỉ phục vụ giáo dục và giải trí cho cả người giàu và người nghèo mà còn góp phần quảng bá một cách rộng rãi sự đa dạng của di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và trong quá trinh đó báo chí đã làm cho những giá trị này trở nên lý tưởng để thúc đẩy sự quan tâm tới vấn đề nào đó cho một đối tượng đại chúng thông qua các bài báo và quảng cáo của họ.
Báo chí đã trở thành một trong những phương tiện truyền thông quan trọng hơn trong nỗ lực đầu tiên để chỉ trích sự tàn phá di sản văn hóa và trong sự vận động cho việc bảo tồn tại khắp các khu vực trên thế giới. Jeff Malpas [152] trong công trình nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống khái niệm giữa phương tiện truyền thông, di sản văn hóa và địa danh đã chỉ ra sự phát triến về kỹ thuật, công nghệ truyền thông đã mở ra nhiều nền tảng báo chí truyền thông mới không giới hạn. Trong đó, tác giả đề cập đến vai trò của các phương tiện truyền thông nói chung và báo chí nói riêng là sự kết nối giữa di sản và địa danh, nó gần giống với việc định danh một di sản văn hóa trên truyền thông để có thể tạo ra sự ghi nhớ, liên tưởng một cách dễ dàng cho công chúng. Nghiên cứu này cũng gợi mở ra một cách làm không mới nhưng lại có giá trị tham khảo cho Việt Nam hiện nay, đó là “xây dựng thương hiệu” cho các di sản văn hóa.
Việc mà các cơ quan báo chí ít, nhiều đã làm nhưng vẫn chưa thực sự chuyên nghiệp và có kế hoạch phù hợp với từng di sản. Cùng quan điểm này, Richard Prentice, Sinéad Guerin và Stuart McGugan [159] đã tiến hành nghiên cứu hành vi của khách tham quan khi đến với các di sản văn hóa, họ đặt ra giả thuyết các di sản này là một sản phẩm của truyền thông. Thông qua việc đánh giá mức độ quan tâm của du khách đối với địa điểm mà họ quan tâm, cùng với sự ảnh hưởng từ thông điệp họ tìm kiếm trên 13 các phương tiện báo chí truyền thông. Các tác giả đã chỉ ra rằng thông tin về di sản văn hóa trên báo chí có ý nghĩa quan trọng tạo ra sự chú ý, nhận thức cũng như cảm tình của du khách đối với một di sản văn hóa.
Báo chí cũng là kênh được du khách tìm kiếm thường xuyên nhằm bổ sung thông tin về di sản mình quan tâm. Trong đó, những vấn đề liên quan tới lịch sử, quá trình bảo tồn và hình ảnh đương đại của một di sản văn hóa là nội dung mà du khách quan tâm nhất. Nghiên cứu này cũng mở ra cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, cơ quan báo chí thông tấn Việt Nam có những hướng triển khai, xây dựng nội dung cho các địa danh văn hoá vật thể để thu hút sự quan tâm cũng như đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Đánh giá tầm quan trọng của báo chí truyền thông, công trình “Chuyên tải di sản văn hóa qua phương tiện truyền thông mới” của David Bearman và Kati Geber [129] thông qua việc nghiên cứu các bảo tàng làm thế nào để thu hút khách tham quan cũng như sự quan tâm của cộng đồng và chính quyền trong thời đại công nghệ số.
Hai tác giả đã cho rằng độ phủ của các phương tiện báo chí truyền thông thời hiện đại sẽ trở nên ngày càng rộng. Nó sẽ góp phần xóa nhòa những rào cản, trở ngại trong khả năng tiếp cận của khách tham quan với các bảo tàng văn hóa trên thế giới. Báo chí cùng các phương tiện truyền thông mới sẽ có vai trò quan trọng trong việc đưa các giá trị di sản văn hóa tiếp cận tới cộng đồng thay vì người dân phải tự tìm đến với các di sản, biến các di sản văn hóa của từng quốc gia trở thành di sản văn hóa có giá trị toàn cầu. Công trình này rất hữu ích đối với những người quản lý di sản trong việc xây dựng kế hoạch và hướng đi trong môi trường truyền thông hiện đại, nơi mà công chúng không còn bị động như trước nữa.
Eric Haas [143] khi nghiên cứu về vai trò của báo chí và việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa thông qua chương trình gây quỹ di sản của Mỹ đã có những đánh giá khá chi tiết về tầm quan trọng của báo chí. Trong đó, ông chỉ ra rằng có hơn nửa bộ phận người Mỹ ở độ tuổi trưởng thành thường xuyên dành ra hơn hai tiếng đồng hộ đế đọc, xem hoặc nghe tin tức trên báo in, báo điện tử, phát thanh và truyền hình. Người Mỹ thường dựa chủ yếu vào các thông tin trên những phương tiện truyền thông đại chúng để đánh giá vấn đề, đặc biệt là những nội dung liên quan đến giáo dục và văn hóa. Thông qua việc tồng hợp, phân tích các công trình đi trước cùng với kết quả khảo sát của mình, Eric Haas chỉ ra rằng các cơ quan thông tấn của Mỹ thường xuyên đưa vấn đề liên quan đến quỹ di sản vào những chuyên mục liên quan đến giáo dục và nghiên cứu.
Cách làm này sẽ khiến cho nội dung có tính ảnh hưởng cao hơn, đặc biệt là dưới ý kiến của chuyên gia hay những nhà nghiên cứu nồi tiếng trên các tạp chí chuyên ngành. Việc làm nổi bật các khía cạnh của một vấn đề thời sự, tạo ra sự tranh luận và bàn thảo của các bên liên quan sẽ khiến cho nội dung đó trở thành tâm điểm thảo luận của dư luận. Kết quả nghiên cứu này, cũng gợi mở một cách làm hữu hiệu trong việc tạo ra sự quan tâm của xã hội đối với các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa, một lĩnh vực mà dường như ai cũng biết nhưng lại không phải ai cũng quan tâm đến nó. Qua một số công trình nghiên cứu cơ bản ở trên, có thế thấy các nhà nghiên cứu ở nước ngoài đánh giá vai trò của các phương tiện báo chí truyền thông trong hoạt động truyền bá văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng thể hiện rõ nét nhất ở việc tạo ra sự chú ý, thu hút sự quan tâm và thiết lập chương trinh nghị sự cho công chúng.
Những công trình nghiên cứu nước ngoài về mối quan hệ giữa báo chí và công tác bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa vật thể Theo các tác giả quốc tế, việc bảo tồn di sản văn hóa là trung tâm để bảo vệ một cảm giác về việc chúng ta là ai, một tài liệu tham khảo có ý nghĩa trong thế giới đa dạng văn hóa của chúng ta. Tuy nhiên, theo Chan Wai-Yin và Ma Shu-Yun trong bài báo Bảo tồn di sản và phát triển bền vững của Trung Quốc [133] cho rằng dưới sự ảnh hưởng của lý thuyết tăng trưởng kinh tế, ý tưởng về phát triển bền vững đã được sửa đổi hướng tới phát triển kinh tế bền vững. Kết 15 quả là, mối quan tâm văn hóa thường bị tách ra trong cách tính toán kinh tế cho quá trình phát triển. Điều này đã được minh chứng trong trường hợp của Trung Quốc, nơi xây dựng kinh tế đã phá hủy một số địa điểm di sản vô giá.
Do đó, phát triển ở Trung Quốc có thể không bền vững, vì mối quan tâm lớn của chính sách phát triển là tập trung vào phát triển kinh tế bền vững hơn là phát triển bền vững. Và để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế và bảo tồn di sản thì sự tham gia của báo chí truyền thông trong giai đoạn này là hết sức quan trọng, nhằm đảm bảo sự quan tâm và tham gia của các cấp quản lý và người dân thông qua các hoạt động tuyên truyền được diễn ra một cách thường xuyên và liên tục. Cũng bàn luận về vấn đề tương tự, Brian Graham, Greg Ashworth, John Tunbridge [141] trong cuốn sách của mình đã đề cập đến các yếu tố quyền lực, văn hóa và kinh tế trong quá trình bảo tồn và phát huy các địa danh di sản văn hóa. Trong đó, các tác giả cho rằng khái niệm về di sản văn hóa nên được nhìn nhận như một nguồn lực xã hội, chính trị hoặc kinh tế.
Các di sản văn hóa có thể mang đến những lợi ích về kinh tế hoặc tạo ra xung đột về chính trị giữa các nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Khi tiến hành nghiên cứu vấn đề này, công trình nghiên cứu đã đề cập đến phương thức đảm bảo sự phát triển bền vững cũng như bảo tồn giá trị di sản là tích hợp giữa giá trị vốn có của di sản với lợi ích của xã hội hiện đại. Thể hiện qua ba phương diện: Sử dụng di sản như một nguồn tài nguyên văn hóa và phục vụ sự phát triển kinh tế của địa phương; giải quyết mối quan hệ giữa di sản và bản sắc của quốc gia trên nhiều phương diện khác nhau; giảm thiểu xung đột phát sinh từ quá trình khai thác giá trị di sản. Với các giải pháp được đề cập, các tác giả đều cho rằng cách tốt nhất để phát triển nguồn tài nguyên này hiệu quả là sử dụng các phương tiện báo chí truyền thông để thu hút sự quan tâm của nhiều bên liên quan, đặc biệt là khai thác tiềm năng kinh tế của di sản.
Yu-Ju Wang, Chihkang Wu, Jingxue Yuan [164] đã thực hiện cuộc khảo sát ở một địa danh di sản nổi tiếng của Đài Loan vào mùa xuân 2007 để tìm hiểu lý do lựa chọn điểm đến di sản của khách du lịch. Thông qua 197 bảng hỏi được thu về, các tác giả đã chỉ ra rằng khi coi các di sản văn hóa là một tài nguyên kinh tế thì báo chí và các phương tiên truyền thông khác có thể coi như một phương tiện truyền thông tiếp thị (Integrated Marketing Communication - IMC) với nhiệm vụ “PR, quảng cáo, bán hàng và tiếp thị trực tiếp” các giá trị của di sản. Thông qua, đánh giá mối quan hệ giữa đặc điểm xã hội học của khách du lịch và phương thức truyền thông, các tác giả cho rằng để đạt được hiệu quả trong việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa thì cần có chiến lược tiếp thị, quản lý và truyền thông hợp lý với từng phân khúc đối tượng mục tiêu.