Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Cơ sở lý luận về thuế GTGT: 1. Khái niệm thuế GTGT: Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng [7,tr29]. Như vậy, thuế GTGT tính trên phần giá trị mới được tạo ra (GTGT) trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vấn đề quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý là phải xác định được GTGT ở mỗi giai đoạn sản xuất kinh doanh, có như vậy mới tính được một cách chính xác số thuế GTGT của giai đoạn đó. GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị HHDV bán ra với tổng trị giá HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế: Tổng giá trị HHDV Tổng giá trị HHDV mua vào GTGT = - (1.1) bán ra tương ứng Thuế GTGT được xác định như sau: GTGT của HHDV Thuế suất thuế GTGT Số thuế GTGT = x (1.2) chịu thuế của HHDV đó Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng các HHDV. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều này thể hiện qua các đặc trưng của thuế GTGT. Đặc trưng của thuế GTGT: - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT (vì vậy thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng, đối với cơ sở kinh doanh thì đây là loại thuế gián thu), là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả HHDV mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT.
Ví dụ: Trần Mạnh Hùng - 3- Lớp Cao học QTKD 2010 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Giá HHDV chưa thuế là: 1. Thuế suất thuế GTGT là 10% => Thuế GTGT là 100. Giá người tiêu dùng phải trả là: 1. Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: người mua HHDV là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của HHDV.
Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp “đã được người mua trả” vào NSNN. - Thu ế GTGT đánh vào GTGT của HHDV phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng HHDV đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán h àng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn b ộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó.
Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh HHDV. Ví dụ: Giả sử vải bán trên thị trường được luân chuyển qua các khâu: từ bông kéo thành sợi, sợi dệt thành vải và bán trên thị trường, thuế suất thuế GTGT ở mỗi khâu là 10%, có bảng sau: Bảng 1. Cách tính thuế GTGT của mặt hàng vải bán trên thị trường. Giá bán (chưa Giá Số thuế GTGT Cơ sở kinh doanh có thuế GTGT mua phải nộp GTGT) (1) (2) (3) (4)=(3)-(2) (5)=(4)x10% Trần Mạnh Hùng - 4- Lớp Cao học QTKD 2010 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Bông - 1.000 100 Bán trên thị trường 3.000 500 Ta thấy ở mỗi khâu luân chuyển thì cơ sở kinh doanh đều phải nộp thuế GTGT trên GTGT tương ứng của khâu đó và tổng số thuế GTGT ở các khâu cộng lại chính bằng số thuế cuối cùng mà người tiêu dùng phải chịu (100 + 100 + 100 + 200 = 500).
So với thuế doanh thu cho thấy: thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ nộp thuế. Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nước thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trước. Điều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Như vậy, đặc trưng trên cho thấy thuế GTGT đã khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp HHDV.
Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Trần Mạnh Hùng - 5- Lớp Cao học QTKD 2010 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ - Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với HHDV xuất khẩu và đánh thuế đối với HHDV nhập khẩu [7, tr29- 31]. Các phương pháp xác định thuế GTGT: Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo một trong hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Đối tượng áp dụng và việc xác định thuế phải nộp theo từng phương pháp như sau: 1. Phương pháp khấu trừ thuế. */ Đối tượng áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. */ Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT Số thuế GTGT Số thuế GTGT đầu = - (1.3) phải nộp đầu ra vào được khấu trừ Trong đó: a) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó. Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thu ế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra. Trần Mạnh Hùng - 6- Lớp Cao học QTKD 2010 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán.
Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán (trừ trường hợp được phép dùng chứng từ đặc thù), không ghi giá chưa có thuế và thu ế GTGT thì thu ế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ. b) Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài Chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam đã quy định rất rõ việc xác định thuế GTGT đầu vào đối với các trường hợp cụ thể để phục vụ cho công tác quản lý thuế được thuận lợi. Trong thực tiễn, đối với nhiều loại sản phẩm hàng hóa có những đặc tính riêng biệt thì hệ thống pháp luật về thuế GTGT cũng có những hướng dẫn cụ thể việc xác định thuế đối với từng trường hợp.
Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. */ Đối tượng áp dụng: a) Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác (bao gồm cả các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác) không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật, trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hoá, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí. Trần Mạnh Hùng - 7- Lớp Cao học QTKD 2010 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp h àng hoá, dịch vụ để tiến hành ho ạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển và khai thác mỏ dầu, khí đốt, bên Việt Nam chịu trách nhiệm khấu trừ và nộp thay theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quy định.