Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TRONG ĐẢNG 1. Quan niệm về công tác giám sát trong Đảng Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo xã hội bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng; bằng công tác tư tưởng, tổ chức và bằng kiểm tra, giám sát.; Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước, các đoàn thể chính trị-xã hội, hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Tổ chức của Đảng ở các cấp, các ngành không những có trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện mà còn có trách nhiệm phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm cho Cương lĩnh chính trị, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thắng lợi trong thực tiễn. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng dù có được xác định đúng, có tính khả thi nhưng nếu tổ chức đảng các cấp tổ chức thực hiện thiếu chặt chẽ, nhất là không kiểm tra, giám sát hoặc kiểm tra, giám sát không đến nơi đến chốn thì kết quả thực hiện sẽ bị hạn chế, thậm chí phạm sai lầm.
Để hạn chế, khắc phục những thiếu sót có thể xảy ra trong quá trình thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, đưa đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khâu then chốt là phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đóng vai trò quan trọng. Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định rõ: kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng và giao cho UBKT các cấp làm cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ giám sát. Điều 30, Điểm 1, Điều lệ Đảng được Đại hội X của Đảng thông qua đã khẳng định vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh 11 đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.
Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng"(1). Quy định này xác định rõ công tác kiểm tra, giám sát là trách nhiệm của toàn Đảng. Các tổ chức đảng (từ Trung ương đến cơ sở) vừa phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát vừa phải chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên. Công tác giám sát là một nhiệm vụ mới được bổ sung thêm cho UBKT các cấp - UBKT các cấp là cơ quan kiểm tra, giám sát chuyên trách của Đảng - do vậy cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, trên tất cả các mặt.
Trong công tác của UBKT, giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát có sự đan xen với nhau. Việc phân biệt giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát chỉ là tương đối. Bởi vì ngay trong hoạt động giám sát đã mang tính chất kiểm tra, và nếu giám sát mà không kiểm tra thì không thể đi đến kết luận xử lý triệt để các vụ việc nảy sinh phục vụ cho sự lãnh đạo của Đảng. Còn nếu kiểm tra mà không giám sát, không đi sâu, đi sát, theo dõi, xem xét thường xuyên các vấn đề thực tế thì kiểm tra sẽ phân tán, thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu cơ sở thực tế để đánh giá, kết luận.
Nói một cách khác, khi tiến hành giám sát là đã bắt đầu một quá trình kiểm tra, kiểm tra là kết thúc một quá trình giám sát. Trong thực tế công tác của UBKT các cấp, không thể giám sát xong rồi để đấy, không xử lý mà phải kiểm tra để làm rõ đúng, sai và có biện pháp xử lý. Muốn kiểm tra có chất lượng thì phải giám sát. Giám sát và kiểm tra bổ sung cho nhau để hoàn chỉnh sự lãnh đạo của Đảng.
Do có mối quan hệ khăng khít với nhau nên trong thực tế chúng ta thường dùng cụm từ “kiểm tra, giám sát”gắn liền với nhau. Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề giám sát, cần phải đặt nó trong mối quan hệ với công tác kiểm tra. - Quan niệm về kiểm tra: Theo “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý (chủ biên), kiểm tra (Đgt): là xem xét thực chất, thực tế(2); kiểm soát(Đgt) là: kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm các qui định(3). (1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H.
(2) (3) Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, H. 12 Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, kiểm tra (luật): là một chức năng quản lý, một khâu trong quy trình quản lý, có chức năng xem xét tình hình và kết quả thực tế thi hành luật, chính sách, chủ trương của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế- xã hội được giao(4). Và theo “Từ điển luật học”, kiểm tra: là xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét(5). Cũng theo “Từ điển luật học” kiểm soát: là xem xét để phát hiện, ngăn ngừa việc làm sai trái với thoả thuận, với quy định(6).
- Quan niệm về giám sát : Theo “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý (chủ biên), giám sát(đgt): là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ(7). Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, giám sát: là một hình thức hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những qui tắc chung nào đó(8). Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính”(9) của Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn và “Từ điển Luật học”(10) của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa-Hà Nội, giám sát còn được hiểu: là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. Dù cho cách diễn đạt có sự khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều có nội hàm chung: là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động.
Có thể đưa ra (4) Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, H. (5) (6) Nxb Từ điển Bách khoa, Từ điển Luật học, H. (7) Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, H. (8) Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, H.
(9) Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn, Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, H. (10) Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, H. 13 quan niệm sau: Giám sát là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động của các tổ chức có thẩm quyền mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức và cá nhân chịu sự giám sát thực hiện đúng những điều đã quy định. Như vậy, đã giám sát là phải theo dõi, xem xét đối tượng giám sát có thực hiện đúng các quy định mà đối tượng đó phải thực hiện hay không để trước hết nhằm nhắc nhở, đôn đốc thực hiện và là cơ sở để quyết định có tiến hành kiểm tra hay không? Do đó, muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên có giám sát.
Giám sát và kiểm tra đều nhằm đạt được mục đích là nắm vững và đánh giá đúng tình hình, từ đó điều chỉnh, uốn nắn mọi hành vi liên quan của đối tượng được kiểm tra, giám sát. Nhưng giám sát được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hoạt động và phát triển của tổ chức và cá nhân, nên có nội dung rất rộng bao gồm: giám sát các hoạt động về tư tưởng, chính trị; giám sát về các mối quan hệ; giám sát về sinh hoạt, đạo đức, lối sống; giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao, việc thực hiện các quy định, quy chế.nên giám sát mang tính chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm nhiều hơn so với kiểm tra. Qua hoạt động giám sát có thể kịp thời cảnh báo, nhắc nhở các cá nhân và tổ chức có biểu hiện không đúng trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết và quyết định hoặc có biểu hiện không đúng trong đạo đức, lối sống và sinh hoạt. Còn nội dung của kiểm tra chủ yếu là kiểm tra theo các nội dung cụ thể (chấp hành hoặc khi có dấu hiệu vi phạm trong việc thực hiện các nội dung trên) gắn với trách nhiệm của mỗi cá nhân hay tổ chức, được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và quy trình, phương pháp nhất định theo yêu cầu của từng nhiệm vụ kiểm tra, được tổ chức thành cuộc kiểm tra; qua mỗi cuộc kiểm tra phải có đánh giá, nhận xét, kết luận cụ thể và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý).
Xét về nội hàm, “giám sát” rộng hơn “kiểm tra”, “kiểm soát”. Trong hoạt động giám sát đã bao hàm hoạt động kiểm tra và kiểm soát. 14 Tất cả các hoạt động giám sát đều thể hiện những đặc điểm chung: + Giám sát là biểu hiện của mối quan hệ giữa một chủ thể giám sát nhất định với các đối tượng cụ thể chịu sự giám sát về những nội dung xác định. + Giám sát là sự theo dõi, xem xét đối tượng làm đúng hay làm sai những điều đã quy định.
Và do đó, hoạt động giám sát là hoạt động có chủ đích của chủ thể giám sát, nhằm hướng đối tượng chịu sự giám sát phải làm đúng những điều đã quy định thông qua những giải pháp nào đó của chủ thể giám sát.