Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới toàn diện nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, bao gồm cả các cá nhân và tổ chức nước ngoài. Sự phát triển đa dạng này tất yếu làm gia tăng các quan hệ pháp luật cũng như các tranh chấp quyền lợi phức tạp trong xã hội. Để duy trì trật tự và thúc đẩy phát triển bền vững, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải xây dựng một môi trường pháp lý tiến bộ, đồng bộ và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân giữ vị trí trung tâm của hoạt động tư pháp và xét xử là trọng tâm, đóng vai trò trực tiếp trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật và bảo vệ quyền công dân.
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp "Tổ chức của Tòa án nhân dân Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" thuộc ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH) do sinh viên Nguyễn Tấn Thanh thực hiện (dưới sự hướng dẫn của Th.S Vũ Anh Sao, năm 2018) đã tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân.
Văn bản xác định 04 mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, tìm hiểu sâu về tổ chức và thực trạng, giải pháp trong tổ chức của Tòa án nhân dân.
- Phân tích, khẳng định vai trò của tổ chức Tòa án nhân dân trong hoạt động xét xử, cũng như vị trí, vai trò của tổ chức Tòa án nhân dân trong Bộ máy nhà nước.
- Phân tích việc áp dụng pháp luật trong tổ chức Tòa án nhân dân qua thực tiễn, chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức Tòa án nhân dân.
- Định hướng việc phát triển nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nguyên tắc hoạt động, tổ chức của Tòa án nhân dân trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, thực trạng tổ chức và chiến lược cải cách tổ chức ngành Tòa án nhân dân Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trọng tâm là các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, kết hợp dữ liệu thực tiễn công tác tổ chức, xét xử tại các cấp Tòa án nhân dân (đặc biệt là Tòa án nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh) tính đến năm 2018.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận và nền tảng chính trị - pháp lý, nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiêu biểu là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở phân tích gồm:
- Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013;
- Sắc lệnh ngày 13/9/1945 thành lập các Tòa án quân sự và Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định thẩm quyền các Tòa án;
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao và Bộ quy tắc đạo đức, ứng xử của Thẩm phán năm 2018.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống và bổ trợ:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại mục 1.5 của Chương 1 và mục 2.2 của Chương 2 nhằm mổ xẻ các quy định pháp luật về thẩm quyền, cơ cấu bộ máy và đánh giá tính khả thi của các nhóm giải pháp đề xuất.
- Phương pháp liệt kê, đối chiếu và so sánh: Sử dụng để làm rõ sự kế thừa, phát triển giữa các bản Hiến pháp (đặc biệt là điểm mới của Hiến pháp 2013 so với Hiến pháp 1992), cũng như so sánh mô hình tổ chức của Tòa án theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 với các giai đoạn trước.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Thu thập số liệu hoạt động xét xử thực tế, các báo cáo chuyên ngành từ Tạp chí Tòa án nhân dân (số 5 và số 6 năm 2018), cùng các công trình nghiên cứu khoa học liên quan như Luận án Tiến sĩ của Lê Thành Dương (2002), Luận án Tiến sĩ của Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2005), Đề tài cấp nhà nước KX.06 và tài liệu của GS.TS Đào Trí Úc, TS. Ngô Huy Cương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc, cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân
Chương 1 khái quát quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống Tòa án nhân dân từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 qua các thời kỳ lập hiến, đồng thời phân tích địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền và các nguyên tắc tổ chức của Tòa án theo quy định hiện hành.
Lịch sử tư pháp Việt Nam ghi nhận sự ra đời của Tòa án quân sự tại các tỉnh/thành (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho) theo Sắc lệnh ngày 13/9/1945. Tiếp đó, Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 khẳng định tính độc lập của Tòa án. Hiến pháp năm 1946 chính thức thiết lập hệ thống cơ quan tư pháp gồm Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp. Qua các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp 2013, địa vị pháp lý của Tòa án nhân dân được nâng lên tầm cao mới: là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, Chương 1 làm rõ 7 nguyên tắc hiến định:
- Việc xét xử sơ thẩm có Hội thẩm tham gia: Hội thẩm chỉ bắt buộc tham gia ở cấp sơ thẩm (trừ thủ tục rút gọn), khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán nhằm bảo đảm tính dân chủ và đại diện cho nhân dân.
- Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật: Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp trái pháp luật; các cấp xét xử độc lập với nhau, Tòa án cấp sơ thẩm không phải xin ý kiến chỉ đạo của Tòa án cấp trên đối với từng vụ án cụ thể.
- Xét xử tập thể và quyết định theo đa số: Hội đồng xét xử có từ ba thành viên trở lên (số lẻ), trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn bằng một Thẩm phán.
- Xét xử công khai: Xét xử tại phòng xử án hoặc lưu động; chỉ xét xử kín trong các trường hợp đặc biệt để giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục, bảo vệ người chưa thành niên hoặc bí mật đời tư theo luật định.
- Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo và quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự: Bị can, bị cáo được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; chỉ định người bào chữa trong các trường hợp bắt buộc.
- Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử: Cụ thể hóa tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khẳng định sự bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội trong việc đưa ra chứng cứ; bản án của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
- Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm: Thực hiện hai cấp xét xử nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục các sai sót của cấp sơ thẩm. Chương 1 cũng chỉ ra Hiến pháp 2013 đã bỏ việc lặp lại quy định về tiếng nói, chữ viết (vì đã quy định chung tại Điều 5) và không còn giữ nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục để phù hợp với thực tiễn xét xử kéo dài và ứng dụng kỹ thuật số.
Về cơ cấu tổ chức theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, hệ thống Tòa án gồm 4 cấp và hệ thống Tòa án quân sự:
- Tòa án nhân dân tối cao: Là cơ quan xét xử cao nhất, thực hiện giám đốc việc xét xử, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm (Hội đồng xét xử 5 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Thẩm phán), tổng kết thực tiễn, phát triển và công bố án lệ, đào tạo bồi dưỡng chức danh tư pháp và quản lý tổ chức. Hội đồng Thẩm phán gồm từ 13 đến 17 thành viên; bộ máy giúp việc gồm Văn phòng, các Vụ, Ban Thanh tra, Tạp chí Tòa án nhân dân, cơ sở đào tạo; trụ sở tại 48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.
- Tòa án nhân dân cấp cao: Thực hiện xét xử phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thuộc thẩm quyền lãnh thổ.
- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Xét xử sơ thẩm theo luật định, phúc thẩm bản án chưa có hiệu lực của Tòa án cấp huyện; kiểm tra bản án có hiệu lực để kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Tối cao kháng nghị; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương: Thực hiện xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ việc và giải quyết các biện pháp xử lý hành chính.
Chương 2: Thực trạng, giải pháp trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân hiện nay
Chương 2 phản ánh thực trạng áp lực công tác, những hạn chế trong tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất và vướng mắc trong áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện.
Về thực trạng công tác và nhân sự:
- Áp lực quá tải án: Tình hình tranh chấp và tội phạm gia tăng dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng. Tại TP. Hồ Chí Minh, trung bình một Thẩm phán phải thụ lý 116 vụ/năm (~10 vụ/tháng tính chung cả hai cấp thành phố và quận/huyện), trong khi chỉ tiêu của Tòa án nhân dân tối cao chỉ từ 4 đến 6 vụ/tháng. Cá biệt có những quận, huyện Thẩm phán phải thụ lý tới 18 vụ/tháng, tương đương với việc chỉ có khoảng 2 ngày làm việc để giải quyết xong một vụ án.
- Thiếu hụt biên chế và áp lực hỗ trợ: Một Thư ký Tòa án thường phải giúp việc cho 2-3 Thẩm phán. Nhiều Thư ký và Thẩm phán không chịu nổi áp lực công việc và trách nhiệm đã nộp đơn xin nghỉ việc.
- Áp lực an toàn nghề nghiệp và dư luận: Thẩm phán và Thư ký đối mặt với nguy cơ bị đe dọa, trả thù từ phía đương sự hoặc bị cáo. Tại phiên tòa dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình, lao động hoàn toàn chưa có lực lượng cảnh sát bảo vệ phiên tòa (chỉ có án hình sự mới có cảnh sát hỗ trợ tư pháp và cảnh sát dẫn giải). Điển hình như vụ việc đương sự đe dọa Hội đồng xét xử sau khi tuyên án tại huyện Bình Chánh. Phòng xử án tại nhiều nơi chỉ có duy nhất một lối đi chung cho cả Hội đồng xét xử và đương sự. Thêm vào đó, áp lực từ mạng xã hội và dư luận thiếu thông tin chuẩn xác (như vụ án xét xử 2 cán bộ thôn nhận hối lộ tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam) tạo áp lực tâm lý lớn cho người xét xử.
- Hạn chế về tính độc lập và nhiệm kỳ: Vẫn còn hiện tượng lãnh đạo nghe báo cáo án và định hướng đường lối xét xử. Quy định nhiệm kỳ Thẩm phán 5 năm dẫn đến tâm lý e ngại, ảnh hưởng đến tính độc lập khi xét xử các vụ án hành chính liên quan đến người có thẩm quyền nhận xét, đề nghị bổ nhiệm lại.
Về vướng mắc áp dụng pháp luật thực tiễn:
- Khó khăn trong giải quyết vụ án dân sự khi bị đơn vắng mặt, không rõ nơi cư trú; xử lý trường hợp bị đơn xuất hiện cung cấp chứng cứ mới sau khi đã tuyên án (cần xử lý qua thủ tục tái thẩm thay vì tùy tiện hủy án).
- Nhận thức không thống nhất về yêu cầu phản tố: Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn thực chất là ý kiến chứng minh quyền lợi của bị đơn và thuộc thẩm quyền xem xét trực tiếp của Tòa án theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chứ không phải là yêu cầu phản tố theo Điều 200. Tương tự, yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án hôn nhân gia đình là một quan hệ pháp luật độc lập cần giải quyết theo yêu cầu đương sự, không phải là yêu cầu phản tố.
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và hướng dẫn áp dụng: TANDTC cần đẩy mạnh ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, các luật tố tụng; đẩy mạnh phát triển án lệ; ban hành các mẫu bản án và xây dựng "Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bản án, quyết định của Tòa án"; phân định rạch ròi giữa thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền xét xử để bảo đảm Thẩm phán độc lập.
- Hoàn thiện tố tụng hình sự và bảo đảm quyền tư pháp: Cụ thể hóa các nguyên tắc suy đoán vô tội, tranh tụng bình đẳng; trao quyền cho TANDTC trực tiếp lập dự toán ngân sách trình Quốc hội phê chuẩn nhằm bảo đảm độc lập về tài chính.
- Đổi mới tổ chức bộ máy, chính sách cán bộ và đãi ngộ:
- Kiến nghị không giảm biên chế Thẩm phán và Thư ký trong bối cảnh án tăng;
- Đổi mới cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng dài hạn, không theo nhiệm kỳ 5 năm để loại bỏ áp lực tái bổ nhiệm;
- Tuyển chọn cán bộ thông qua thi cử công khai; kiên quyết miễn nhiệm, thay thế người yếu kém hoặc vi phạm;
- Nâng cao chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ tương xứng để Thẩm phán an tâm công tác;
- Bố trí lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp bảo vệ cả các phiên tòa dân sự, kinh tế, hành chính; cải tạo cơ sở vật chất phòng xử án (bố trí lối đi riêng cho người tiến hành tố tụng).
- Bám sát đường lối cải cách tư pháp: Triển khai hiệu quả các nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp, phân tích toàn diện mô hình tổ chức của Tòa án nhân dân Việt Nam sau khi có hiệu lực của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, làm rõ sự chuyển đổi thẩm quyền giữa 4 cấp Tòa án. Đề tài cung cấp các số liệu và dẫn chứng thực tế phản ánh tình trạng quá tải và áp lực xét xử tại cơ sở.
Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu thực tế về áp lực giải quyết án và nhân sự được phản ánh trong khóa luận:
| Tiêu chí / Nội dung |
Chỉ tiêu quy định của TANDTC |
Thực tế ghi nhận tại TP. Hồ Chí Minh |
Hệ quả và thực trạng phát sinh |
| Số lượng án thụ lý trung bình của Thẩm phán |
4 - 6 vụ / tháng |
10 vụ / tháng (116 vụ / năm) |
Gấp 1,5 - 2,5 lần chỉ tiêu; có quận/huyện thụ lý tới 18 vụ / tháng (~2 ngày / vụ). |
| Tỷ lệ phân bổ Thư ký Tòa án |
Đảm bảo hỗ trợ riêng từng Thẩm phán |
1 Thư ký phục vụ 2 - 3 Thẩm phán |
Thư ký quá tải công việc hành chính tư pháp, gia tăng áp lực xét xử. |
| Bảo vệ an ninh phiên tòa xét xử |
Có lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp đối với án hình sự |
Phiên tòa dân sự, hành chính, kinh tế, hôn nhân chưa có cơ chế bảo vệ |
Phát sinh nguy cơ bị đương sự đe dọa, lăng mạ (như vụ việc tại huyện Bình Chánh). |
| Nhiệm kỳ công tác của Thẩm phán |
5 năm / nhiệm kỳ |
Phải xét tái bổ nhiệm sau mỗi 5 năm |
Gây tâm lý e ngại, giảm tính độc lập khi xử án hành chính. |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc tác giả đã gắn kết lý luận tổ chức bộ máy nhà nước với thực tiễn xét xử, thẳng thắn chỉ ra các nút thắt trong công tác quản lý cán bộ, rủi ro an toàn nghề nghiệp của Thẩm phán và bất cập của chế định nhiệm kỳ 5 năm. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể trong tố tụng dân sự (phân biệt yêu cầu phản tố và thẩm quyền hủy quyết định cá biệt) và kiến nghị giữ nguyên biên chế, chuyển đổi sang bổ nhiệm Thẩm phán dài hạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định do hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như tầm nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của sinh viên, đề tài chưa thể giải quyết trọn vẹn mọi vấn đề phát sinh trong tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
Tác giả gợi mở các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu gồm:
- Nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ Thẩm phán trong ngành Tòa án;
- Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong lĩnh vực hành chính và cơ chế bảo đảm tính độc lập khi xét xử các quyết định hành chính, hành vi hành chính;
- Xây dựng và hoàn thiện lực lượng bảo vệ tư pháp chuyên trách tại Tòa án trong mọi hoạt động xét xử.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Luật, Luật Kinh tế, Luật Tư pháp khi nghiên cứu học phần Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tố tụng hình sự và Luật Tố tụng dân sự.
Các phần có giá trị tham khảo cao bao gồm:
- Hệ thống hóa các nguyên tắc tổ chức xét xử theo tinh thần Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 tại Chương 1;
- Phân tích thực trạng áp lực xét xử, an toàn nghề nghiệp và các giải pháp đổi mới chế định bổ nhiệm Thẩm phán, xác định yêu cầu phản tố tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo số liệu trong khóa luận, áp lực thụ lý án của Thẩm phán tại TP. Hồ Chí Minh thực tế diễn ra như thế nào so với chỉ tiêu của Tòa án nhân dân tối cao?
Theo số liệu nêu trong khóa luận, chỉ tiêu do Tòa án nhân dân tối cao đưa ra là mỗi Thẩm phán giải quyết từ 4 đến 6 vụ/tháng. Tuy nhiên, tại TP. Hồ Chí Minh, trung bình mỗi Thẩm phán phải thụ lý 116 vụ/năm, tương đương 10 vụ/tháng (tính chung cho hai cấp thành phố và quận/huyện). Cá biệt tại một số quận, huyện, Thẩm phán phải thụ lý lên đến 18 vụ/tháng, tính theo ngày làm việc thì chỉ có khoảng 2 ngày để giải quyết xong một vụ án.
2. Khóa luận chỉ ra những hạn chế nào của quy định nhiệm kỳ Thẩm phán 5 năm và đề xuất giải pháp gì?
Khóa luận chỉ ra rằng quy định nhiệm kỳ 5 năm làm hạn chế tính độc lập khi xét xử. Thẩm phán có tâm lý e ngại khi phải xét xử các vụ án liên quan đến những người có thẩm quyền nhận xét, đánh giá và đề nghị tái bổ nhiệm mình, đặc biệt là trong các vụ án hành chính. Tác giả đề xuất đổi mới trình tự, thủ tục bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng bổ nhiệm dài hạn, không theo nhiệm kỳ.
3. Tác giả phân tích như thế nào về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự hay không?
Khóa luận phân tích rằng yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn chỉ là ý kiến nhằm chứng minh nguyên đơn không có quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp, không thỏa mãn các điều kiện để coi là yêu cầu phản tố theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hơn nữa, theo Điều 34 của Bộ luật này, Tòa án có thẩm quyền xem xét hủy quyết định cá biệt trái pháp luật ngay cả khi đương sự không có yêu cầu.
4. Khóa luận nêu những bất cập cụ thể nào về điều kiện làm việc và an toàn của Thẩm phán, Thư ký tại phòng xử án?
Văn bản nêu rõ tại các phiên xử dân sự, hành chính, kinh tế, hôn nhân gia đình chưa có lực lượng công an bảo vệ phiên tòa (khác với án hình sự có cảnh sát hỗ trợ tư pháp). Nhiều phòng xử án chỉ có một lối đi duy nhất khiến Hội đồng xét xử và đương sự phải đi chung, dẫn đến nguy cơ bị đương sự đe dọa trực tiếp khi tuyên án (như vụ việc tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh). Ngoài ra, phòng làm việc của Thư ký còn chật chội, hàng chục Thư ký ngồi chung một phòng lớn gây cản trở công việc khi đương sự đến gây mất trật tự.
5. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được trình bày gồm những bộ phận nào?
Theo Chương 1 của khóa luận, cơ cấu tổ chức TANDTC gồm: Hội đồng Thẩm phán TANDTC (từ 13 đến 17 người, gồm Chánh án, các Phó Chánh án và các Thẩm phán TANDTC); bộ máy giúp việc (Văn phòng, các Vụ và đơn vị tương đương, Ban Thanh tra, Tạp chí Tòa án nhân dân); cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm và chức danh tư pháp. Chánh án đương nhiệm được văn bản ghi nhận là ông Nguyễn Hòa Bình, cùng 5 Phó Chánh án, trụ sở đặt tại số 48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tấn Thanh đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử hình thành và các nguyên tắc hiến định về tổ chức Tòa án nhân dân Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Công trình phản ánh chân thực những áp lực về khối lượng án, nhân sự, an toàn xét xử và vướng mắc nghiệp vụ tố tụng trên thực tế. Từ đó, tác giả đưa ra hệ thống kiến nghị đồng bộ về hoàn thiện pháp luật, áp dụng án lệ, bố trí cảnh sát bảo vệ phiên tòa dân sự, tăng cường đãi ngộ và chuyển đổi sang cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán dài hạn nhằm nâng cao tính độc lập và hiệu quả của cơ quan thực hiện quyền tư pháp.