Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân Chương 2: Thực trạng và giải pháp trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân hiện nay 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC, CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân Sau cách mạng Tháng 8/1945, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, cùng với việc đập tan bộ máy thực dân - phong kiến, xoá bỏ các cơ quan thuộc chính phủ toàn quyền. Xây dựng bộ máy nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân. Để bảo vệ những thành quả cách mạng và trấn áp bọn phản cách mạng.
Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh về việc thành lập các Toà án quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho theo Sắc lệnh ngày 13/9/1945. Như vậy, ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân, việc thành lập các chính quyền nhân dân, việc thành lập các Toà án là hết sức cần thiết và đã được quyết định thành lập. Thẩm quyền của các Toà án được Chủ tịch chính phủ quy định trong Sắc lệnh 13 ngày 24/1/1946 “Tòa án với vị trí là cơ quan bảo vệ pháp luật cần phải đảm bảo sự độc lập trong hoạt động của mình, không bị chi phối, lệ thuộc vào các nhánh quyền lực khác”1. Tháng 11/1946, Quốc hội khoá I tại kỳ họp thứ 2 đã thông qua Hiến pháp 1946 quy định về hệ thống cả cơ quan tư pháp, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động trong đó “ cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có Tòa án nhân dân tối cao; Các Tòa án phúc thẩm; Các Tòa án đề nhị cấp và sơ cấp”2.
Đó là những văn bản luật đầu tiên đặt cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động cho các Toà án nhân dân ở nước ta. Sau hòa bình lập lại cho đến nay, Việt nam đã thông qua 5 hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Hiến pháp 2013 là Hiến pháp hiện hành cho đến nay và được Quốc hội thông qua vào ngay 28/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014, là sản phẩm trí tuệ sau khi lấy ý kiến của nhân dân trong và ngoài nước, thể hiện được đầy đủ ý trí, nguyện vọng của nhân dân. Hiến pháp lần này quy định khái quát nhưng đầy đủ về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, bảo vệ Tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước, đề cao quyền con người, quyền làm chủ của nhân dân, phản ánh bản chất dân chủ, tiến bộ của nhà nước và chế độ ta.
Nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung, lần đầu tiên quy định trong Hiến pháp vô cùng quan trọng, định hướng mang tính đột phá về chế độ chính trị, khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và lần đầu tiên 1 Điều 47 Sắc lệnh 13 ngày 24/1/1946 2 Điều 63 Hiến pháp 1946 5 khẳng định vai trò, vị trí của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, khẳng định nguyên tắc, suy đoán vô tội “ người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”3. Hiến pháp 2013 được ban hành đã tạo ra vị thế mới, điều kiện mới cho tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân, thể hiện tư tưởng nhà nước pháp quyền và đường lối cải cách tư pháp ở nước ta. Trên cơ sở những quy định trong Hiến pháp, với vị trí, vai trò “Tòa án là trung tâm của hoạt động tư pháp và xét xử là trọng tâm, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”4. Để các quy định của Hiến pháp đi vào cuộc sống và phát huy hiệu lực, các quy định đó cần được cụ thể hóa bằng việc ban hành các luật khác nhau, mà trước hết là Luật tổ chức Tòa án nhân dân, theo đó tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 24/11/2014, luật này quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân; về Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác trong Tòa án nhân dân; về bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân.
Vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân 1. Vị trí của Tòa án nhân dân Vị trí đặc biệt của Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp xuất phát từ vai trò và những thẩm quyền hiến định. Chỉ Tòa án với bản án của mình mới có thẩm quyền coi một người là có tội và phải chịu hình phạt. "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.
Trong tất cả các thiết chế quyền lực nhà nước, không một thiết chế quyền lực nào có được thẩm quyền phán xét đó. Tòa án xuất phát từ việc bảo đảm quyền con người về dân sự, hình sự. Đó là quyền đuợc Toà án xét xử khi bị cơ quan nhà nước buộc tội. Trong quá trình tố tụng hình sự, bị cáo cần phải được xét xử nếu không có lý do chính đáng để trì hoãn, được sớm đưa ra Tòa án hoặc cơ quan pháp luật có thẩm quyền tiến hành tố tụng và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc trả tự do.
Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu xét xử trước Tòa án, đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai nhằm mục đích để Toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do nếu việc giam giữ là trái pháp luật. 3 Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013; Điều 14 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 4 Điều 102 Hiến pháp 2013 6 Vị trí đặc biệt của Toà án cũng thể hiện ở chỗ Toà án đưa ra phán quyết nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền sửa bản án, hủy bản án chỉ thuộc về Tòa án thuộc cấp xét xử cao hơn và phải dựa trên những căn cứ theo luật định. Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Như vậy, địa vị pháp lý của Tòa án là cơ sở cho việc xác định địa vị pháp lý tố tụng của Tòa án, theo đó, địa vị pháp lý tố tụng là điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện vai trò và vị trí của Tòa án bởi chỉ Tòa án mới có thể hoàn thành được sứ mệnh là cán cân công lý, là chỗ dựa đáng tin cậy của người dân khi vị trí đó được bảo đảm bởi những quy định chặt chẽ và đầy đủ về tố tụng.
Chức năng của Tòa án nhân dân Nói đến chức năng của Toà án nhân dân cũng như các cơ quan nhà nước khác là xác định những phương diện hoạt động của các cơ quan nhà nước đó. Đối với Toà án nhân dân có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là xét xử. Cũng như bất kỳ một cơ quan nhà nước nào khác, các Toà án nhân dân đều phải quản lý cán bộ, quản lý ngân sách, quản lý cơ sở vật chất và tang vật của Toà án mình. Toà án nhân dân cũng phải phối hợp với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền và bảo vệ pháp luật, góp phần giáo dục nhân dân trung thành với tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các nguyên tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu của Toà án nhân dân vẫn là hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình, cũng như các vụ án khác. Vì vậy, "Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp"5. Do đó, ở nước ta chỉ có các Toà án mới có quyền xét xử và xét xử là chức nằng duy nhất của các Toà án. Hoạt động xét xử của các Toà án có các đặc trưng khác với việc giải quyết các đơn từ khiếu nại, tố cáo hoặc các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước khác ở những điểm sau đây: Thứ nhất, chỉ có các Toà án mới được quyền xét xử các vụ án hình sự, những vụ án mà vi phạm pháp luật được coi là nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, các cơ quan nhà nước khác không có quyền giải quyết.
Do đó, căn cứ vào những hành vi vi phạm pháp luật, chỉ có Toà án mới có quyền phán quyết một công dân có tội hay không có tội và nếu có tội, chỉ có Toà án mới có quyền áp dụng các chế tài hình sự. 5 Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013; Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 7 Thứ hai, hoạt động xét xử của các Toà án phải tuân theo một trình tự hết sức nghiêm ngặt. Trình tự này được quy định một cách chi tiết trong những văn bản pháp luật nhất định như trong Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, nếu vi phạm những quy định trong các văn bản trên, phiên toà có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Thứ ba, trong nhiều trường hợp, sau khi các cơ quan nhà nước khác đã giải quyết, nhưng các đương sự chưa thoả mãn và gửi đơn khiếu nại đến Toà án nhân dân thì Toà án nhân dân sẽ xét xử và quyết định của Toà án nhân dân sau sẽ thay thế các quyết định trước.
Như vậy, chức năng xét xử là chức năng chủ yếu và đi xuyên suốt trong hoạt động của Tòa án nhân dân và được thể hiện rõ trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi Toà án.