CHƯƠNG I Tiểu thuyết tư liệu viết về chiến tranh đã thể hiện một quan niệm không đơn giản xuôi chiều về con người, từ khát vọng khám phá con người ở nhiều thang bậc giá trị, đến những tọa độ ứng xử khác nhau, ở nhiều chiều hướng khác nhau. Con người cá nhân của người lính trong thời khắc chiến tranh vẫn luôn ẩn chứa những điều tốt đẹp làm cho họ muốn được sống, được hưởng thụ. Nhưng không phải họ để những nhu cầu bản năng đó làm họ chùn bước trước kẻ thù. Nói như Chu Lai: “Chiến tranh chính là điều kiện, là tình huống để đẩy mạnh cái suy nghĩ đời thường lên một đỉnh điểm” [17, tr.
Và văn học qua thể loại tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh đã hé mở để khai thác cái mạch ngầm bên trong ấy một cách đầy đủ hơn. Bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực đã đi đến cùng cái bi kịch của nó. Cách lý giải về con người cá nhân ở những góc độ xã hội và tự nhiên ẩn sâu trong cả những góc khuất tâm linh đã đưa đến cái nhìn về chiến tranh thời hậu chiến đầy chân thực. Tiểu thuyết chiến tranh thời hậu chiến suy cho cùng không còn là khúc ca ngân dài của bản anh hùng ca chiến trận, thay vào đó các nhà văn đang cố “bóc gỡ” một mặt trái về chiến tranh sâu sắc hơn, phơi bày lên trên trang giấy những góc cạnh khác nhau của chiến tranh qua những số phận cá nhân cụ thể, sinh động.
Nhìn chung, tiểu thuyết về chiến tranh sau 1986 thể hiện cái nhìn đầy suy ngẫm trên tầm triết mỹ của nhà văn sự sống – cái chết, chiến tranh – hòa bình, quá khứ – hiện tại trong một tư duy gợi mở, đầy tính đối thoại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Chương 2 KÝ ỨC LÍNH TRONG “HỒI ỨC LÍNH” VÀ “RỪNG ĐÓI” 2. Những hăm hở của ngày ra trận Từ năm 1970 đến 1972 theo lệnh tổng động viên, hàng nghìn sinh viên các trường đại học lên đường nhập ngũ, bổ sung lực lượng chiến đấu cho chiến trường. Thế hệ "xếp bút nghiên lên đường chiến đấu" khi ấy gồm các sinh viên, cán bộ giảng dạy của hơn 30 trường đại học, trung học miền Bắc, chủ yếu là thủ đô Hà Nội, từ Bách khoa, Tổng hợp, Sư phạm, Kinh tế Kế hoạch (ĐH Kinh tế quốc dân), Mỏ - địa chất, Y dược, Mỹ thuật, Thể dục thể thao.
Ra đi từ giảng đường, họ được huấn luyện một thời gian rồi được bổ sung vào các đơn vị vào thẳng chiến trường. Những người lính ra đi từ giảng đường đại học năm ấy đã để lại một phần tuổi trẻ ở chiến trường, chỉ một phần thôi, nhưng đó là phần tinh hoa nhất cuộc đời. Vũ Công Chiến và Nguyễn Trọng Luân, hai tác giả đều là những người sinh viên đi lính thời đó. Họ đã trải qua những thăng trầm những khắc nghiệt của chiến tranh, để ngày nay viết lại mảng kí ức đầy màu sắc đời lính sinh viên như thay lời tri ân cho những đồng đội của mình.
Vũ Công Chiến – nhà văn của những miền ký ức. Là một người sinh viên đi lính, ông trải qua 6 năm đời lính. Trong 6 năm đó ông chiến đấu tại chiến trường Nam Lào và mặt trận B3 Tây Nguyên là khoảng thời gian tuy không dài nhưng: “Đó là phần đời dữ dội, có sức ám ảnh rất lớn. Đó là “món nợ” tinh thần của anh đối với đồng đội.
Nó buộc anh phải ghi lại và chia sẻ. Để những người lính thế hệ anh nhớ lại và tự hào về những năm tháng mình đã sống, đã hy sinh, chiến đấu vì đất nước. Để thế hệ sau có được một hình dung đầy đủ hơn chiến tích của một thời và cái giá của những ngày đang sống hôm nay” [4, tr.7] - như lời PGS.TS Lưu Khánh Thơ viết tựa cho cuốn Hồi ức lính. Có lẽ vì thế mà khi chiến tranh đã lùi xa, gần 60 tuổi, ông mới bắt đầu đặt bút cẩn thận ghi chép lại những câu chuyện về khoảng thời gian hào hùng mà bi tráng ấy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 Đọc Hồi ức lính của Vũ Công Chiến ngay từ đầu người lính sinh viên vẫn mang nét hồn nhiên, tinh nghịch ấy đã lên đường hành quân với tâm thế “nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực”. Họ - thế hệ đông đảo những người sinh viên đã cầm súng lên đường chiến đấu mang theo lý tưởng chung của cả dân tộc. Tác giả Nguyễn Trọng Luân lên đường nhập ngũ khi đang là sinh viên năm thứ ba khoa Cơ khí, trường Đại học Cơ điện. Trong bốn năm từ 1972 đến 1975 tham gia chiến đấu, với vai trò lính trinh sát bộ binh, ông đã cùng đồng đội tham chiến “từ rừng tới biển”.
Tiểu đoàn của tác giả gồm 4 đại đội sinh viên từ các trường Đại học như Bách khoa, Mỏ - Địa chất, Y khoa, Nông nghiệp. Họ hành quân ròng rã vượt Trường Sơn vào tận chiến trường nhưng không được cầm súng trực tiếp chiến đấu mà trước hết phải làm nhiệm vụ đi mót sắn bên đất Campuchia tiếp tế cho những đơn vị trực tiếp chiến đấu. Những chàng lính sinh viên lãng mạn đã trải qua những cơn đói, quần áo bị rách, những cơn sốt rét rừng, thương vong vì đói vì sốt. trên một chiến trường không có tiếng súng, không bom rơi đạn nổ.
Bên cạnh những câu chuyện xót xa đó còn có cả những câu chuyện hài hước đậm chất lính: Bởi vì đói quá hai anh lính trẻ chưa có người yêu đã nghĩ ra cách cắt chóp của hai chiếc mũ tai bèo để khâu thành chiếc áo lót phụ nữ (cooc xê) mang vào bản của người dân tộc đổi được một con gà to bằng con quạ. Đổi xong, hai chàng lại tiếc hùi hụi vì nghĩ giá như khâu thêm mấy cái tua rua màu xanh đỏ nữa chắc phải đổi được con gà to bằng chõ xôi. Nguyễn Trọng Luân viết : “Chiến tranh có nhiều điều lạ. Chả thể lý giải cho ra ngô ra khoai theo kiểu chính trị viên…Tất cả chúng tôi trong đội hình này đều thích đi bộ đội và cũng lại vô cùng tiếc nuối viễn cảnh ra trường làm kỹ sư của mình.
Khi khám sức khỏe khối thằng bị cho quay về thì lại khóc, xin đi chiến trường bằng được. Đằng sau chúng tôi là một thứ kỉ cương dòng họ ra đình, là nụ cười ánh mắt bạn bè cùng trường. Là nỗi kinh sợ bị xã hội dè bỉu khi mình không tham gia vào công cuộc kháng chiến của dân tộc. Là cái vẫy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 tay bạn gái ngày lên đường, là sự khát khao ngày trở về huy hoàng tươi sáng, khiến chiến tranh dù không phải trò đùa thì nó cũng vẫn đang đùa với đời người trai” [21, tr.
Rồi có những lúc những người lính mà đều là sinh viên ra trận ấy cũng mang những tâm tư hết sức bình thường. Như một đứa con nhỏ bé xa nhà nhớ về mẹ, nhớ quê hương, nhớ ngôi làng mình đã chào tạm biệt lên đường ra chiến trận. Nguyễn Trọng Luân viết trong Rừng đói: “chả biết người đi ngoại quốc có cảm giác giống chúng tôi không? Chỉ ở sâu trong đất người có vài ba chục cây số mà một chiều ra bờ sông biên giới nhìn sang bên Gia Lai đã thấy nao lòng. Thấy như sắp về làng mình đến nơi…nhìn khói đốt nương bên kia biên giới mà cứ ngỡ mẹ đốt rạ ngoài đồng sau vụ gặt” [21, tr.70] Cả những khi người lính đó vẫn mang tâm hồn của một cậu thanh niên 18, đôi mươi, có những hành động hết sức tinh nghịch: Muốn đứng bên sông mà nhìn về đất Việt Nam để hú lên một tiếng và nghe đồng bào dân tộc bên kia hú lại.
Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng với những người lính xa quê, đóng quân nơi biên giới nước bạn thế là đủ ấm lòng. Trong Rừng đói Nguyễn Trọng Luân lại đúc rút ra kinh nghiệm về tính cách của đồng đội: “thằng ở biển thì cứ thích hát những bài về rừng. Thằng ở rừng thì hát về biển. Có anh lính sinh viên Y khoa giải thích đó là cơ thể người thiếu cái gì thì não bộ đánh thức người ta nghĩ về cái đó.
Thảo nào khối thằng chưa hề có người yêu mà kể chuyện hôn con gái như thật” [21, tr. Rồi họ rủ nhau nghĩ về một cô người yêu nào đó trong tưởng tượng để chứng tỏ là có người yêu. Đám lính sinh viên khi đó bảo nhau. Nghĩ về bạn gái là thấy mình cần phải sáng láng lên, cần làm những điều tốt đẹp.
Cứ như vậy họ tự làm nhau vui, đời lính bỗng vui vẻ lạ. Họ - cả vài trăm người lính sinh viên ra trận chưa có ai biết ra nước ngoài. Chưa có ai tận hưởng cái gọi là thiêng liêng đất mẹ. Nhưng dòng máu nóng chảy trong huyết mạnh vẫn luôn hừng hực nỗi lòng hướng về quê hương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 Nguyễn Trọng Luân đã nhận ra được tình cảm thiêng liêng đối với đất nước khi viết: “Nỗi lòng yêu Tổ quốc thật không giống trong tiểu thuyết, không giống chính trị viên quán triệt, nó tự nhiên ở trong lòng người lính, nó rưng rưng như mình không hề nghĩ đến nó mà nó lại ở trong lòng mình từ lâu lắm rồi. Nó chỉ là mảnh đất, mảnh rừng đụn khói và mùi đốt nương miễn là nó ở trên đất tổ quốc mình.71-72] Nguyễn Trọng Luân có kể về truyện một anh lính láu cá. Khi sắp lên đường đi vào chiến trường có xin phép về nhà một ngày thăm bố mẹ. Không hề có phương tiện, anh đã chạy bộ hàng chục cây số về nhà rồi ngay trong đêm lại lặn lội lên như thế để có mặt tại đơn vị.
Ai cũng khen anh chấp hành tốt kỉ luật quân đội. Nhưng khi tiểu đội trưởng nhìn xuống chân anh thấy anh đi chân đất. Hỏi – Dép đồng chí đâu? – Tôi tặng nó cho bố tôi rồi. Trung đội lôi anh lính ra phê bình anh đáp tỉnh bơ – Bố tôi cho hẳn một đứa con trai theo quân đội đánh giặc còn chả tiếc mà quân đội lại tiếc bố tôi đôi dép! Nghe vậy chính trị viên cũng đành im lặng rồi ngày hôm ấy anh lính kia được bổ sung đôi dép mới.
Chẳng thiếu những lúc họ vui đùa, cùng nhau ca hát.