Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HÀNH TRÌNH THƠ CHẾ LAN VIÊN 1. Đôi nét về tiểu sử, con người Mảnh đất Quảng Trị khô cằn, nắng gió, với những tháp truông cát lượn dọc theo đường bờ biển đã nảy mầm, mọc lên một cây hoa với hương sắc thật đẹp – Chế Lan Viên (1920-1989) - một tài năng văn chương đích thực. Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ra trong một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ - Quảng Trị, lớn lên học ở Quy Nhơn – Bình Định – Đây có thể xem như quê hương thứ hai của nhà thơ. Chế Lan Viên là một tài năng thơ từ nhỏ.
Ông đã làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi, có thơ, truyện ngắn đăng trên các báo “Tiếng trẻ”, “Khuyến học”, “Phong hóa” từ những năm 1935-1936. Cùng với các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn, Chế Lan Viên lập nên nhóm thơ Bình Định tạo được dấu ấn cho Thơ Mới. Đặc biệt khi “Điêu tàn” của Chế Lan Viên ra mắt bạn đọc khi ông mới 17 tuổi đã thực sự đánh dấu tên tuổi của một nhà thơ trẻ tài năng lúc bấy giờ. Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, sau đó ông vào Sài Gòn làm báo, rồi laị ra Thanh Hóa, quay về Huế dạy học.
Ông tham gia cách mạng tháng Tám tại Quy Nhơn bằng sự hăng hái, nhiệt thành của tuổi trẻ. Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, ông vừa là một chiến sĩ yêu nước vừa là một nhà hoạt động văn nghệ và báo chí, phục vụ đắc lực cho cách mạng nước nhà. Tháng 7 năm 1949, Chế Lan Viên được kết nạp vào Đảng. Sống và chiến đấu cùng đồng bào những nơi ông đã đi qua đã nhem nhóm, ấp ủ cho nhà thơ những tình cảm thật sâu nặng, nghĩa tình, để có được tập thơ “Gửi các anh” - thể hiện sự chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và hồn thơ Chế Lan Viên.
Sau 1954, Chế Lan Viên về sống tại Hà Nội, rồi lại lăn lộn vào chiến trường ác liệt khu Bốn trong những năm đánh Mỹ. Tập thơ “Ánh sáng và Phù sa” (1960) là một thành công đặc sắc, đánh dấu bước phát triển mới của hồn thơ Chế Lan Viên. Tiếp sau đó là các tập thơ trong chặng đường sáng tác của ông: Hoa ngày thường, chim báo bão; Những bài thơ đánh giặc; Đối thoại mới; rồi sau ngày đất nước giải. 12 phóng, nhà thơ vào thành phố Hồ Chí Minh sống và làm thơ cho tới cuối đời.
các tập thơ: Hoa trước lăng Người; Hái theo mùa; Hoa trên đá; Ta gửi cho mình tiếp tục ra mắt bạn đọc. Sức sáng tạo trong nhà thơ thực sự đáng khâm phục. Không những thế, Chế Lan Viên còn là một cây bút văn xuôi đặc sắc với các tập bút ký “Vàng sao”; “Những ngày nổi giận”; Với các tập tiểu luận, phê bình : “Vào nghề”; “Nghĩ cạnh dòng thơ”…Đặc biệt, sau khi ông mất những “Di cảo thơ” của ông còn được người bạn đời – nhà văn Vũ Thị Thường sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu đến với độc giả. Có thể nói, ở bất kỳ lĩnh vực nào ông cũng chứng tỏ được tài năng văn chương của mình.
Chế Lan Viên là người thông minh, sắc sảo, có vốn hiểu biết sâu rộng về văn hóa, văn học, về thơ cổ kim Đông Tây chính từ việc ông đọc nhiều, ghi chép nhiều. Ông cũng là con người rất cá tính, cương trực, quyết đoán, trắng đen rõ ràng nhưng thực chất lại là người rất tình cảm, rất đỗi bình dân. Cho đến những phút cuối đời ông vẫn nở nụ cười thật hồn nhiên làm rạng rỡ cả khuôn mặt của con người cả cuộc đời sống liêm khiết, « trong veo như dòng suối », chỉ lo viết, viết và viết : « Lửa cháy phòng bên rồi, đạp tháng ngày mà viết… ». Nhà thơ như giành giật thời gian để viết, hết câu thơ này đến câu thơ khác, hết bài thơ này đến bài thơ khác… Chế Lan Viên luôn sống hết mình cùng thời đại, dân tộc.
Nhờ có tài năng thiên phú cùng với lao động nghệ thuật miệt mài trong suốt hành trình sáng tạo của mình, thi sĩ họ Chế đã để lại cho đời những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, có những thi phẩm đạt đến đỉnh cao. Ông là nhà thơ với nhiều suy tư và thể nghiệm mạnh dạn đã tạo cho mình một vị trí nổi bật, có đóng góp không nhỏ vào thành tựu của văn học Việt Nam hiện đại. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Hành trình sáng tạo thơ Chế Lan Viên Cuộc đời và tác phẩm của nghệ sĩ là sự bí ẩn mà mã số của nó không phải bao giờ con người cũng tìm ra lời giải đáp.
Chính vì thế mà việc đánh giá đúng đắn tầm vóc của người nghệ sĩ nhất là những người trong thế giới quan có nhiều mâu thuẫn thật chẳng đơn giản chút nào. Chế Lan Viên là người như thế. 13 Chế Lan Viên để lại cho nền văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ với 15 tập thơ; 7 tác phẩm văn xuôi; 8 tập tiểu luận - phê bình. Tuy nhiên, chỉ xét riêng về mảng thơ thì hành trình sáng tạo thơ của ông cũng không phải là một con đường thẳng mà có những « Khúc quanh », trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ.
Trước Cách mạng tháng Tám ông là một thi sĩ – lãng mạn. Cách mạng tháng Tám thành công, Chế Lan Viên cũng giống như bao nhà thơ, nhà văn khác, được « tắm » trong bầu khí quyển của thời đại mới đã trở thành một thi sĩ - chiến sĩ, vừa cầm bút vừa cầm súng bảo vệ quê hương. Đến cuối đời, ông trở thành một thi sĩ – triết nhân hay đúng hơn là một nhà thơ – con người một cách trọn vẹn nhất. Con đường thơ của thi sĩ Chế Lan Viên đi từ tháp Chàm đến tháp Bay-on : mười sáu tuổi ông hòa mình khóc cho một vương quốc đã tuyệt diệt ; Bảy mươi tuổi ông hòa tháp Angkor khóc mình lúc sắp vào « Xứ không màu ».
Hành trình thơ Chế Lan Viên đi từ « thung lũng đau thương tới cánh đồng vui », đi từ « chân trời của một người đến chân trời của mọi người ». Để thực hiện hành trình đó là bao lo lắng, nghĩ suy, trăn trở, lột xác, bao khó khăn trở ngại trên đường thơ vì « cho đến được… lúa vàng đất mật/phải trên lòng bao trận gió mưa qua » (Thư gửi Tế Hanh). Cho đến những dòng thơ cuối cùng của cuộc đời, thơ Chế Lan Viên vẫn là « niềm kinh dị » đối với những người làm văn học và yêu văn học Việt Nam. « Chế Lan Viên là một thứ biên – niên-thơ của một người, nhưng cũng là một biên – niên - thơ của Tổ quốc, kể từ khi dân tộc nằm dưới cái thung lũng đau thương và ngoi lên mà bước tới cánh đồng hoan lạc … Chỉ cần nhìn vào những chặng đường thơ ông, ta sẽ thấy nhục và vinh, tình yêu và nỗi đắng cay, lòng căm giận và những mùa trái chín » [1 ; 619].
Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám Chế Lan Viên là một tài năng từ nhỏ, ông đã có thơ và truyện ngắn đăng trên các báo « Tiếng trẻ », « Khuyến học », « Phong hóa » từ khi mới 12, 13 tuổi. Nhưng khi Điêu tàn (1937) ra đời mới thật sự đánh dấu tên tuổi của một nhà thơ lớn sau này. Qua 37 bài thơ trong tập Điêu tàn, ta thấy Chế Lan Viên đã thể hiện những nỗi đau đớn và khắc khoải trong tâm hồn mình. Tập thơ chẳng biết được thai nghén từ.
14 bao giờ nhưng khi trình làng, năm 1937, thì tác giả mới mười sáu, mười bảy tuổi. Ngay lập tức nó trở thành một hiện tượng kỳ vĩ, « làm sửng sốt thi đàn Việt Nam hồi ấy ». Hoài Thanh gọi nó « như một niềm kinh dị ». Trong Điêu tàn là cả một thế giới « một tinh cầu giá lạnh/Một vì sao trơ trọi cuối trời xa ! » với những chiếc sọ người, xương khô, nầm mồ, nghĩa địa, cái chết, hư vô… Khi nhắc tới Thơ mới không thể không nhắc tới tên tuổi Chế Lan Viên.
Điểm gặp gỡ giữa chàng trai trẻ họ Chế và các nhà Thơ mới lúc bấy giờ là cùng làm nên « một thời đại mới trong thi ca Việt Nam ». Các thi sĩ Thơ mới đã đưa cái TÔI trực tiếp vào trang thơ thay thế cái TA trong văn học trung đại. Cái tôi trong Điêu tàn của Chế Lan Viên được biểu hiện ở mọi khía cạnh. Đó là cái tôi đắm say trong tình yêu, là khao khát lên tiên, là mong ước giao hòa với những hồn ma nơi nghĩa địa.
Đó là cái tôi buồn, chán đi đến tận cùng nỗi tuyệt vọng của con người : « Trời hỡi trời! hôm nay ta chán hết/Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian » (Tạo lập). Và để thoát khỏi nỗi buồn chán cõi trần, nhà thơ hướng văn thơ của mình vào cõi địa ngục tăm tối, không thể chịu đựng được thực tại, ông lẩn trốn vào quá khứ để thể hiện nỗi bi phẫn của mình : « Ai đâu trở lại mùa thu trước/Nhặt lấy cho tôi những lá vàng ?/Với của hoa tươi, muôn cánh rã/Về đây đem chắn nẻo xuân sang! » (Xuân). Tạng cảm xúc chung của các nhà Thơ mới là buồn, chán, cô đơn nhưng mỗi nhà thơ có cách biểu hiện riêng, hướng đi riêng. Huy Cận với nỗi buồn bâng khuâng trước « trời rộng, sông dài », Xuân Diệu buồn vô cớ « Hôm nay, trời nhẹ lên cao,/Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn… » còn Chế Lan Viên là người duy nhất hướng nỗi buồn thương của mình tới một dân tộc đã bị diệt vong từ lâu : dân tộc Chàm.
Ngay cả khi xuân đến với sự sống được hồi sinh, cảnh vật tươi mới sau những ngày đông lạnh giá thì nhà thơ vẫn không thể không bị ám ảnh bởi những hình ảnh « máu chảy, đầu rơi » của những chiến sĩ Chàm thuở nào : « Hãy bảo ta : cành hoa đào mơn mởn/Không phải là khối máu của dân Chàm/…Quả dừa xanh không phải đầu chiến sĩ/Xác pháo rơi không phải thịt muôn người » (Xuân về). Thế giới trong Điêu tàn rùng rợn với những chết chóc, hủy diệt, sọ người, hầm mộ… Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Chế Lan Viên đã tạo được tiếng nói riêng, lối đi riêng cho mình, ngay cả quan niệm về thơ, về người làm thơ cũng hết sức mới .