Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG BẢO VỆ TRẺ EM 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Khái niệm báo in - Khái niệm báo in Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất và là loại hình gốc của mọi lọai hình báo chí sau này.TS Đinh Văn Hường “Báo in là tên g ọi loại hình báo chí chuyển tải thông tin và hình ảnh trên giấy, đ ược th ực hiện bằng phương tiện kỹ thuật in và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Các ấn phẩm báo in gồm có: báo, tạp chí, phụ trương và b ản tin” [27, tr.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng đ ịnh nghĩa: “Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội” [51, tr.
TS Dương Xuân Sơn: “Báo in là ấn phẩm định kỳ chuy ển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội thông qua các công cụ như máy in, mực in, giấy in” [44, tr. TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí l ại đ ặt báo in trong tổng quan các loại hình báo chí nh ư sau: “Báo in là nh ững ấn phẩm định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát thanh r ộng rãi và đ ịnh kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [15, tr. Tóm lại có thể hiểu khái quát báo in là loại ấn phẩm định kỳ, chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự, được in và phát hành r ộng rãi 12 trên cả nước. Báo in là một trong những loại hình hình truyền thông ra đời sớm nhất trong các loại hình báo chí, gắn với công ngh ệ in ấn nên hình thức của loại hình báo chí này là trên giấy.
- Thế mạnh và hạn chế của báo in Thứ nhất, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in, sự chủ động bao gồm việc bố trí thời điểm đọc, thời gian đọc, địa điểm đọc, trình tự đọc, tốc độ đọc và cách thức đọc. Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in là quá trình chủ động, đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, huy động sự làm việc tích cực của não bộ. Nhờ đó mà khả năng ghi nhớ thông tin cũng lâu, sâu h ơn giúp ng ười đọc có thể nhận thức sâu sắc về chuỗi thông tin, sự kiện được ph ản ánh. Chính vì vậy báo in không chỉ thông tin, phản ánh sự kiện mà còn phân tích, đánh giá có chiều hướng sâu và thuyết phục công chúng bằng l ời lẽ, d ẫn chứng cụ thể.
Thứ ba, việc lưu trữ thông tin của báo in rất đơn giản và tiện lợi phù hợp với thói quen của người đọc. Chính đặc điểm này giúp báo in có lợi thế trong việc trở thành nguồn tư liệu quý giá để tham khảo, học tập. Phần tư liệu có thể lưu trữ trong thời gian dài nếu được bảo quản và gi ữ gìn c ẩn thận thì vẫn giữ nguyên các giá trị nội dung thông tin khi cần có thể tìm lại và tham khảo bất cứ lúc nào. Bên cạnh những ưu điểm nổi trội thì báo in vẫn tồn tại m ột s ố h ạn chế: Một là, phạm vi tác động của báo in còn hạn chế, chỉ với những người biết chữ, có trình độ nhận thức và đặc biệt là không bị mất hoặc hạn chế khả năng thị lực (bị mù, hoặc mắt yếu) thì mới có thể đọc và hiểu được nội dung.
Riêng về mặt này, phát thanh hay truyền hình có ưu thế hơn. 13 Hai là, việc phát hành báo in từ trước đến nay được thực hiện theo hình thức chuyển phát hoặc trao tay, vì thế việc báo in đ ến tay ng ười đ ọc sớm hay muộn là phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối. Ba là, khả năng tương tác giữa nhà báo và công chúng báo in không cao, khả năng truyền tải tin tức không nhanh nhạy nh ư các lo ại hình báo điện từ vì còn phụ thuộc vào việc in ấn, nên báo in ngày càng khó thu hút sự quan tâm của độc giả, nhất là độc giả trẻ tuổi. Khái niệm truyền thông - Khái niệm truyền thông Có nhiều khái niệm liên quan đến thuật ngữ “truyền thông”.
Tùy theo lĩnh vực và góc độ nghiên cứu mà các h ọc gi ả đ ưa ra các cách hi ểu, quan niệm khác nhau về truyền thông. Theo Mai Quỳnh Nam: “V ới cách hiểu chung nhất, truyền thông là quá trình có phương thức và mô hình truyền thông. Truyền thông là một quá trình diễn ra liên tục nhằm chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng. Đây là quá trình ph ức t ạp qua nhi ều m ắt, khâu.
Các mắt khâu ấy chuyển đổi tương đối linh ho ạt, đ ể h ướng t ới s ự thay đổi nhận thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm” [34, tr. “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/ c ộng đồng/xã hội. Truyền thông là hoạt động thông tin giao tiếp xã hội, là phương tiện, phương thức liên kết xã hội, là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội” [21, tr.
Truyền thông là việc thông tin hai chiều trong đó bên truy ền tin c ố gắng cung cấp thông tin và kêu gọi thay đổi hành vi, còn bên nh ận tin sẽ 14 cung cấp một số phản hồi như là kết quả của việc nhận tin. Các ph ản h ồi này có thể được thực hiện thông qua hội thoại hoặc ho ạt đ ộng. Các hình thức truyền thông thời sơ khai là: Phỏng vấn, họp dân, phát tranh cổ động có thảo luận, đối thoại, chiếu phim theo chủ đề có thảo luận. Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đ ến m ọi cá thể xã hội.
Do đó, hiện tượng này có rất nhiều quan điểm và đ ịnh nghĩa khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông. Như vậy, truyền thông có thể hiểu là quá trình trao đổi liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa các cá nhân hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi, thái đ ộ phù hợp. - Mô hình truyền thông Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các hình bi ểu đ ồ s ơ đ ồ.
s ử dụng để quy những ý kiến phức tạp về cách biểu đạt mang tính ch ất đ ồ họa. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều mô hình truy ền thông khác nhau như mô hình của Lasswell, mô hình truyền thông c ủa Claude Shannon, mô hình truyền thông của Shannon và Weaver, mô hình c ủa David Berlo, mô hình tiếp thị xã hội,. Trong đó mô hình truyền thông của Shannon được coi là khái quát hơn cả, phản ánh khái quát và đầy đủvề các yếu tố truyền thông. Mô hình truyền thông của Claude Shannon Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian bao gồm các yếu tố tham dự chính (Hình 1.1): + Nguồn: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và kh ởi s ướng quá trình truyền thông.
Nguồn phát là một người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác. + Thông điệp: Là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm t ư, tình c ảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học- kỹ thuật. được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó.
+ Kênh truyền thông: Là các phương tiện, con đ ường, cách th ức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau như: Truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truy ền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phương tiện. + Người nhận: Là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận hoạt động truyền thông.
Trong một số trường hợp, mạch ph ản hồi bằng không hoặc không đáng kể. Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tại được sự quan tâm của công chúng. + Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông ( tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật.) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin có sự sai lệch. Trong quá trình truyền thông nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau.
V ề m ặt th ời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước. Khái niệm trẻ em và hoạt động truyền thông bảo vệ trẻ em - Khái niệm trẻ em Khái niệm “trẻ em” đã được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ (1924), Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (1959), Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người (1968), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), Công ước quốc tế về Quy ền tr ẻ em (1990), Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm vi ệc (1976): “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con ng ười” [1, tr. Trẻ em là người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể ch ất và trí tuệ, dễ bị tổn thương cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo d ục đ ặc bi ệt, k ể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.