Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Sơ lược tổng quan nghiên cứu về dạy học tích hợp 1. Ở nước ngoài Dạy học tích hợp đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm và thực hiện. Đây là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực để đào tạo được con người vừa có đủ tri thức, vừa biết hành động một cách sáng tạo, linh hoạt khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
Tích hợp trở thành xu thế chủ yếu trong việc sắp xếp kiến thức, số giáo trình tích hợp các môn học tự nhiên ở một số nước phát triển tăng lên rất nhanh, tiêu biểu như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc, Pháp, Anh, Mỹ, Canada. Cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục bắt đầu được đề cao ở Mỹ và các nước Châu Âu từ những năm 1960 của thế kỉ XX. Gần một thập kỷ sau đó vấn đề này mới được quan tâm ở Châu Á và ở Việt Nam (vào những năm 1970 - 1980 của thế kỷ XX). Tháng 9/1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO đã tổ chức tại Varna (Bungari) bàn về việc vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học và thảo luận dạy học tích hợp các khoa học là gì [14].
Nghiên cứu khoa học giáo dục về vấn đề tích hợp là tổng tập công trình “Các quá trình tích hợp trong khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục – dạy học chủ nghĩa cộng sản” được xuất bản năm 1983. Khái niệm tích hợp đã được đưa vào giáo dục học Xô viết trong tác phẩm này. Theo ý kiến của các tác giả, tuyển tập của họ “là những ý tưởng đầu tiên phản ánh bản chất các quá trình tích hợp trong giáo dục như là tính quy luật của khoa học’’. 4 Đóng góp đáng kể cho việc hình thành hệ thống lý luận dạy học tích hợp, vào nửa đầu những năm 90 dưới sự chỉ đạo của V.Phormenko, các nhà giáo dục Liên bang Nga đã tiến hành nghiên cứu chương trình tích hợp một cách có hệ thống với cụm đề tài “Xây dựng quá trình dạy học trên cơ sở tích hợp” [22].
Các tác giả tiến hành xác lập các phương thức xây dựng chương trình tích hợp trong giáo dục, đưa ra cách phân loại các phương thức đó, hình thành khái niệm về các sự kiện tích hợp và cần được tích hợp. Tại một số nước phương Tây cũng đã xuất hiện những công trình nghiên cứu nghiêm túc về quan điểm dạy học tích hợp. Xavier Roegiers đã tổng hợp thành cuốn tài liệu Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường. Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích những căn cứ để dẫn tới việc tích hợp trong dạy học [23].
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, dạy học tích hợp là một khái niệm tương đối mới đối với nền giáo dục, tuy nhiên việc dạy học tích hợp không phải là mới vì thực ra nó cũng đã tồn tại ở nhiều bậc học của nước ta, chỉ có điều chúng ta không gọi cụ thể. Ở tiểu học thường tích hợp liên môn hoặc tích hợp trong nội bộ môn học, sau đó giảm dần từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông (tích hợp trong nội nội môn học). Việc xây dựng chương trình giáo dục theo tư tưởng tích hợp bắt đầu được chú ý ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX. Có thể nói, tích hợp đã trở thành xu thế phát triển giáo dục trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua.
Ở nước ta đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng của dạy học tích hợp vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục theo xu hướng tích hợp nội môn, thí dụ dạy học tích hợp giáo dục môi trường thông qua các môn học như Hóa học, Sinh học, Địa lí. cụ thể là dự án VIE98 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực tế, việc đổi mới nội dung và 5 phương pháp dạy học ở một số môn học: Ngữ văn, Sinh học, Hoá học, Vật lí, Giáo dục công dân… dạy học tích hợp cũng đã được nghiên cứu vận dụng. Trong những năm gần đây, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp được công bố như: - Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015).
Nội dung Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trình bày ba chuyên đề: Những vấn đề chung về dạy học tích hợp; Tổ chức dạy học tích hợp; Cách thức tổ chức và quản lí dạy học tích hợp [1]. - Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh (quyển 1: Khoa học Tự nhiên; quyển 2: Khoa học Xã hội) do Đỗ Hương Trà (2016) chủ biên. Trong hai cuốn sách này, tác giả đã đưa ra những cơ sở lí luận cần thiết về dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực. - Hình thành năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh.
Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn và nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học tích hợp một số môn học ở trường trung học phổ thông [4]. Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án, bài đăng tạp chí đã được công bố về dạy học tích hợp như: Luận văn thạc sĩ của Võ Viết Hưng (2015) với tên đề tài Nghiên cứu dạy học tích hợp chủ đề dòng điện trong các môi trường trong Vật lí phổ thông; Luận văn thạc sĩ của Tống Thị Hạnh (2015) với tên đề tài Xây dựng và tổ chức dạy học một số chủ đề kiến thức tích hợp khoa học tự nhiên ở Trung học cơ sở; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tố Khuyên (2016) với tên đề tài Tổ chức dạy học chủ đề tích hợp STEM “Công nghệ nano và đời sống” ở trường Trung học cơ sở; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Sơn (2017) với tên đề tài Xây dựng chủ đề tích hợp trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông. Dạy học tích hợp 1. Một số khái niệm cơ bản a) Khái niệm Tích hợp Tích hợp có nguồn gốc từ tiếng La tinh: intergration với nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Theo từ điển Giáo dục học [9], tích hợp được hiểu là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học. Theo Đỗ Mạnh Cường [5], tích hợp có thể coi là sự liên kết các đối tượng trong giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất. Theo Dương Tiến Sỹ [16], tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó. Trên cơ sở đó, theo chúng tôi: Tích hợp là sự liên kết, kết hợp các nội dung, lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học để thực hiện tốt mục tiêu dạy học.
b) Dạy học tích hợp Theo UNESCO định nghĩa dạy học tích hợp khoa học là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” (Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972). Xavier Roegiers đã sử dụng thuật ngữ “Khoa sư phạm tích hợp” [23]. Theo ông, Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập 7 trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước, những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Theo báo cáo kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2002), dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới từ đó phát triển những năng lực cần thiết”.
Trong phạm vi luận văn này, theo chúng tôi dạy học tích hợp là quá trình dạy học kết hợp, lồng ghép nhiều nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều môn học để giúp học sinh hình thành các năng lực cần thiết. Đặc điểm của dạy học tích hợp Các nhà nghiên cứu đã đưa ra tiêu chí quan trọng của dạy học tích hợp [25]: việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh động, giáo viên giảng dạy theo nhóm, quá trình học lấy học sinh làm trung tâm, có sự tương tác về trình độ giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh và giáo viên, giữa giáo viên với nhau. Wraga [28] nhấn mạnh dạy học tích hợp làm cho việc học có nhiều ý nghĩa hơn khi xét theo góc độ liên kết học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, liên kết các môn học, độ phức hợp và giải quyết vấn đề. Trên bình diện của học sinh, học sinh cảm thấy hứng thú hơn vì được thể hiện năng lực của chính mình.
Các tác giả Zhbamova, Rule, Montgomery và Nielsen sau khi tiến hành nghiên cứu và khảo sát về dạy học tích hợp đã có những so sánh, đối 8 chiếu và làm nổi bật ưu thế của dạy học tích hợp so với dạy học truyền thống [11]. So sánh giữa dạy học tích hợp với dạy học truyền thống Đặc thù Dạy học tích hợp Dạy học truyền thống Hoạt động trong Làm việc theo nhóm Làm việc cá nhân giờ học Nhiều phương pháp cải tiến Phương pháp Giảng dạy trực tiếp, ít giảng dạy thông qua phương giảng dạy dùng phương tiện kĩ thuật. Phương pháp Nhiều phản hồi tích cực từ Ít phản hồi tích cực từ phản hồi giáo viên. Dựa theo sự lựa chọn của Chỉ tập chung vào sự kết Câu hỏi học sinh.
nối từ kiến thức đã học.