ĐẶT VẤN ĐỀ Vải (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả Á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, thuộc vào nhóm cây ăn quả chủ đạo của miền Bắc Việt Nam. Sản lượng vải được xếp sau dứa, chuối, cam, quýt, xoài. Về mặt chất lượng, quả vải được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, nhiều chất bổ dưỡng, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Ngoài sử dụng ăn tươi, quả vải còn được chế biến như sấy khô, làm đồ hộp, chế biến nước giải khát, được thị trường trong nước và thế giới ưa thích.
Năm 2010, tổng diện tích vải của cả nước là 79.100 ha trên tổng số 776.300 ha cây ăn quả của cả nước (chiếm 10,2 % diện tích cây ăn quả cả nước), sản lượng đạt 256. Theo số liệu năm 2010 diện tích vải được trồng nhiều nhất ở các tỉnh như Bắc Giang 35.800 ha, Hải Dương 13.000 ha, Quảng Ninh 3.700 ha, Thái Nguyên 4. Giống trồng tại các vùng chủ lực là vải thiều Thanh Hà có thời vụ thu hoạch chủ yếu trong tháng 6 hằng năm (Cục Trồng trọt, 2011). Lục Ngạn là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90 km với diện tích tự nhiên là: 101.223,72 ha, trong đó đất nông nghiệp 27.000 ha (chiếm 26,7% tổng diện tích đất tự nhiên) có tiểu vùng khí hậu, đất đai thích hợp với nhiều loài cây ăn quả á nhiệt đới như: vải, nhãn, hồng, đào, mơ, mận, cam, chanh.
trong đó vải thiều chiếm vị trí quan trọng. Theo số liệu báo cáo của địa phương, Lục Ngạn có tổng diện tích cây ăn quả là 21.599 ha, trong đó diện tích vải thiều duy trì hàng năm khoảng 16.500 ha, tổng sản lượng từ 90.000 tấn, giá trị thu nhập năm 2016 khoảng 3 nghìn tỷ đồng, chủ yếu trồng bằng giống vải thiều Thanh Hà chính vụ thời gian chín của giống vải này ngắn tập trung khoảng 30 ngày, với sản lượng lớn như vậy việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, đầu vụ giá bán sản phẩm còn cao, giữa vụ giá thấp làm thiệt hại kinh tế cho người trồng vải. Trong những năm qua thấy rõ được vị trí kinh tế của cây vải, Đảng bộ huyện Lục Ngạn nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã ban hành Nghị quyết số 86-NQ/HU về định hướng phát triển cây ăn quả với mục đích đa dạng sản phẩm hàng hoá, cơ cấu lại giống vải để rải vụ thu hoạch giảm áp lực cho tiêu thụ: cơ cấu diện tích trồng vải chín sớm chiếm 15-20% bằng các giống vải chín sớm U trứng, Bình Khê, U hồng, Hùng Long. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, diễn biết thời tiết theo hướng bất lợi cho cây vải sinh trưởng và phát triển như nhiệt độ mùa đông có xu hướng tăng nên việc phân hoá mầm hoa của cây á nhiệt đới như cây vải dễ bị ảnh hưởng tiêu cực.
Nước khan hiếm vào mùa quả vải bắt đầu lớn, thậm chí có năm hạn kéo dài đến cuối tháng 4 dương lịch, lượng mưa phân bố không đều cũng ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất và chất lượng quả, nhất là đối với vải chín sớm có thời gian chín sớm khi hạn kéo dài… Để thích ứng và tìm những biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm giảm tác động xấu của điều kiện tự nhiên hay vấn đề nội tại của cây những biện pháp kỹ thuật như dùng chất kích thích đậu quả, duy trì độ ẩm đất đều hơn bằng chất giữ ẩm hay cắt tỉa chùm hoa để tập trung dinh dưỡng cho quả cần được nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đề tài “Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng của quả vải chín sớm tại Lục Ngạn, Bắc Giang” đã được thực hiện để tìm hiểu thêm những biện pháp khắc phục các hạn chế trong canh tác nhằm giúp cây vải chín sớm có thể cải thiện năng suất, chất lượng và đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa hoa, bón chất giữ ẩm, phun GA3 đến năng suất và chất lượng quả vải chín sớm U trứng, U hồng tại Lục Ngạn, Bắc Giang.
Yêu cầu - Theo dõi đặc điểm sinh trưởng của cây, đặc điểm ra hoa, đậu quả. - Theo dõi tỷ lệ đậu hoa, tỷ lệ đậu quả cũng như các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả. - Đánh giá chất lượng quả vải khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật tỉa hoa, bón chất giữ ẩm, phun GA3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu trên quy mô 2 ha cây vải 5 năm tuổi tại xã Nghĩa Hồ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang năm 2016.
Ý NGHĨA KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI 1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đề tài bổ sung thêm những dẫn liệu có cơ sở khoa học, lý luận cho việc khẳng định tác động các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất giống vải chín sớm tại Việt Nam nói chung và Lục Ngạn (Bắc Giang) nói riêng. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề tài góp phần hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc giống vải chin sớm U trứng, U hồng góp phần tăng năng suất và chất lượng quả, tăng thu nhập cho người trồng vải. Những đóng góp mới của đề tài Việc kết hợp làm cỏ, bón thúc với bón chất giữ ẩm CH ở hàm lượng 80g/cây vào giai đoạn cây vải chín sớm U trứng, U hồng hình thành quả non; đối với giống U hồng tiến hành cắt tỉa ½ chiều dài cành hoa (nhánh chính) trước khí hoa nở khoảng 2 tuần và xử lý GA3 lồng độ 100ppm vào thời điểm hoa tàn và quả bằng hạt đậu xanh sẽ đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, LỊCH SỬ CÂY VẢI Cây vải có tên khoa học là Litchi chinenis Sonn, thuộc họ Bồ hòn Sapindaceae, có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam (Wu, 1998; Vũ Công Hậu, 1999). Ở Trung Quốc, những cây hoang dại đã được tìm thấy khá nhiều ở những khu rừng ẩm ướt tới độ cao 1.000m như ở Hải Nam, dưới 500m ở những vùng đồi phía Tây và Đông tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, và dưới 1.000m ở vùng đồi hoặc thung lũng phía Nam tỉnh Vân Nam (dẫn theo Wu, 1998).
Theo FAO (1989), tài liệu đầu tiên đã ghi lại về vải đã ghi nhận vào năm 100 trước công nguyên Hoàng đế Hán Vũ đã đem vải vào niềm Nam Trung Quốc và niềm Bắc Indonexia. Ở Việt Nam, vải hoang dại cũng được tìm thấy ở vùng núi Ba Vì (Hà Nội), rừng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và Tuyên Hóa (Quảng Bình). Vải hoang dại hoàn toàn khác với hầu hết các giống vải trồng, có nhu cầu lạnh để phân hóa mầm hoa ít khắt khe hơn. Vải được nhân giống bằng hạt từ thế kỷ thứ 10 trước Công nguyên.
Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, phương pháp chiết cành mới được sử dụng và đến thế kỷ 16, phương pháp ghép lần đầu tiên mới được ghi nhận (Anonymuos, 1978 ). Sử dụng phương pháp ghép và chiết cành đối với vải được mô tả chi tiết lần đầu tiên trong sách của Xu Bo (1579) and Deng Qingcai (1628). Theo Galan Sauco and Menini (1989), vải di thực sang Myanmar, gần biên giới với tỉnh Vân Nam Trung Quốc vào cuối thế kỷ 17, tới Ấn Độ năm 1798, và sau đó đến các nước Nepal, Thái Lan… Cây vải được đưa đến Tây Ấn năm 1.775, đã được trồng trong nhà kính tại Anh và Pháp đầu thế kỷ 19. Cây vải tới Hawaii vào năm 1873, và Florida vào năm 1883, và chuyển từ Florida đến California vào năm 1897.
Nó có quả đầu tiên tại Santa Barbara vào năm 1914.000 ha) là nơi có diện tích trồng vải lớn nhất thế giới sau đó là Ấn Độ (12. Ngoài ra nó được trồng rộng rãi ở Pakistan, Bangladesh, Miến Điện, Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Queensland, Madagascar, Brazil và Nam Phi (Morton, 1987). Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1998), vào thế kỷ 19, cây vải được đưa đến trồng tại Israel. Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các công nhân 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoa Kiều gốc Quảng Đông đã đưa vải vượt qua xích đạo vào Công Gô.
Hiện nay vải được trồng ở gần 30 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở các nước vùng Đông Nam Á, Châu Đại Dương, các đảo ở Thái Bình Dương và miền Nam Châu Phi. Châu Á các nước trồng vải là: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Bawnglades, campuchia, Lào, Malaysia, Philippin, Srilanda, Indonesia và Nhật Bản. Ở Châu Phi có: Nam Phi, Madagasca, Công Gô, Ga Bông, Mautirius và Reeuyniong. Châu Đại Dương có: Australia và Newzealand.
Châu Mỹ có: Hoa Kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctorico và Braxin. Ở Việt Nam, cây Vải được trồng cách đây khoảng 2000 năm và phân bố từ vĩ tuyến 18 trở ra phía Bắc, nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng trung du miền núi phía Bắc và một phần khu Bốn cũ. Vùng Thanh Hà - Hà Hải Dương hiện còn cây vải nhà cụ Hoàng Văn Thu trên 130 tuổi được gọi là cây vải tổ. Hàng năm, vào vụ vải chín người dân thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn vẫn tổ chức ngày hội làng để tưởng nhớ người đã có công mang cây vải về xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho vùng quê này.
Từ vùng Thanh Hà - Hải Dương, cây vải đã được đưa đi trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cả một số tỉnh Tây Nguyên. Ở Thời điểm hiện tại, đã hình thành một số vùng trồng vải mang tính sản xuất hàng hóa lớn như Thanh Hà, Chí Linh, Tứ Kỳ (Hải Dương), Đông Triều, Hoành Bồ (Quảng Ninh), Lục Ngạn, Lục Nam, Tân Yên (Bắc Giang ), Đồng Hỷ, Đại Từ (Thái Nguyên)… Tuy nhiên so với các vùng trồng vải thì đứng đầu về diện tích, sản lượng phải và chất lượng quả vải thì Lục Ngạn (Bắc Giang) luôn xếp hàng đầu, hàng năm duy trì khoảng trên 16.500 ha, với sản lượng trên 90. Cây vải thiều được người dân Lục Ngạn tôn vinh là cây vải tổ đầu tiên được ông Nguyễn Đức Trụ người dân xã Nam Dương trồng vào tháng 7 năm 1957. Rồi tới những năm 1960, trong hành trang của hang chục ngàn người Hải Dương lên phát triển kinh tế tại Lục Ngạn có cây vải Thanh Hà mang theo.
Nhưng cũng mất hơn 20 năm vừa trồng vừa thử nghiệm cây vải Thanh Hà mới có kết quả trên đất đồi Lục Ngạn. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. PHÂN LOẠI VÀ CÁC GIỐNG VẢI 2.