Tổng quan nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế những năm qua đã thúc đẩy việc chuyển đổi quy mô lớn diện tích đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước đã thu hồi hơn 728.000 ha đất, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 536.000 ha, tác động trực tiếp đến sinh kế của 826.012 hộ gia đình. Riêng tại địa bàn thành phố Hà Nội, từ năm 2008 đến năm 2015, toàn thành phố đã triển khai thu hồi đất tại 1.303 dự án với tổng diện tích 6.579 ha, bố trí tái định cư cho 6.570 hộ dân. Trung bình cứ 1 ha đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của hơn 10 lao động nông thôn.
Huyện Thanh Trì là địa bàn cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, nơi tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ gắn liền với hàng loạt dự án hạ tầng kỹ thuật và nhà ở trọng điểm. Vấn đề đặt ra là việc mất tư liệu sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi căn bản phương thức sinh kế truyền thống, tạo áp lực lớn lên an sinh xã hội và việc làm của người dân. Đề tài nghiên cứu "Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp tại dự án Cửa ô phía Nam và dự án xây dựng hạ tầng nhà ở đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội" do tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ thực hiện nhằm đánh giá toàn diện các tác động kinh tế - xã hội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng sống cho người dân. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016 trên địa bàn 2 xã trọng điểm là Tứ Hiệp và Ngũ Hiệp với cỡ mẫu khảo sát thực tế gồm 180 hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò căn cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa khung bồi thường và đào tạo nghề.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế kết hợp với Khung sinh kế bền vững. Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu chỉ ra xu hướng tất yếu của việc tái phân bổ lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn khi đô thị hóa gia tăng. Đồng thời, Khung sinh kế bền vững được áp dụng để phân tích sự biến đổi của 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên (đất sản xuất), vốn tài chính (tiền bồi thường, thu nhập), vốn con người (trình độ nghề nghiệp), vốn vật chất (nhà ở, phương tiện sinh hoạt) và vốn xã hội.
Hệ thống khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu được chuẩn hóa theo quy định pháp luật và các lý thuyết kinh tế lao động:
- Thu hồi đất: Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, đây là hành vi pháp lý của Nhà nước nhằm quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được trao quyền hoặc thu lại đất vi phạm pháp luật để phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng hoặc quốc phòng, an ninh.
- Việc làm: Được xác định theo Bộ luật Lao động năm 2012 và định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế, là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập hợp pháp, bảo đảm tính hệ thống và duy trì giá trị sống.
- Đời sống và bồi thường, hỗ trợ: Bao gồm tổng hòa các điều kiện sinh hoạt vật chất (thu nhập, phương tiện, nhà ở) và tinh thần, cùng các biện pháp tài chính - xã hội theo Nghị định 47/2014/NĐ-CP và Quyết định 63/2015/QĐ-TTg nhằm khôi phục mức sống ngang bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp (báo cáo thống kê của Chi cục Thống kê huyện Thanh Trì, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng) và dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra xã hội học từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016.
Cỡ mẫu khảo sát gồm 180 hộ gia đình, được chọn lọc từ tổng số 906 hộ bị thu hồi đất tại 2 dự án (Dự án Cửa ô phía Nam có 473 hộ và Dự án đấu giá quyền sử dụng đất Ngũ Hiệp - Tứ Hiệp có 433 hộ). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi với 3 nhóm cụ thể:
- Nhóm 1: Thu hồi dưới 30% diện tích đất canh tác (chọn ngẫu nhiên 30 hộ trên mỗi dự án, tổng số 60 hộ).
- Nhóm 2: Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất canh tác (chọn ngẫu nhiên 30 hộ trên mỗi dự án, tổng số 60 hộ).
- Nhóm 3: Thu hồi trên 70% diện tích đất canh tác (chọn ngẫu nhiên 30 hộ trên mỗi dự án, tổng số 60 hộ).
Lý do lựa chọn phương pháp phân tầng ngẫu nhiên kết hợp phân tích thống kê mô tả và so sánh trước - sau thu hồi nhằm bảo đảm tính đại diện cao, phản ánh đúng mức độ tổn thương sinh kế theo từng biên độ mất đất, đồng thời bóc tách rõ rệt sự biến động về thu nhập và việc làm của từng nhóm đối tượng cụ thể.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích định lượng từ 180 phiếu điều tra tại 2 dự án trên địa bàn huyện Thanh Trì đã chỉ ra những chuyển biến sâu sắc trên các khía cạnh kinh tế và xã hội:
Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người của các hộ dân đều ghi nhận mức tăng trưởng rõ rệt sau khi thu hồi đất. Tại Dự án Cửa ô phía Nam (Dự án 1), thu nhập bình quân tăng từ 7.806.912 đồng/người/năm lên 11.844.144 đồng/người/năm, tương đương mức tăng 51,71% (gấp 1,52 lần). Tại Dự án hạ tầng nhà ở Ngũ Hiệp - Tứ Hiệp (Dự án 2), thu nhập bình quân tăng từ 7.586.136 đồng/người/năm lên 10.765.500 đồng/người/năm, tương đương mức tăng 41,91% (gấp 1,42 lần).
Thứ hai, cơ cấu nguồn thu nhập có sự dịch chuyển mang tính bước ngoặt. Tỷ trọng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp sụt giảm nghiêm trọng: tại Dự án 1 giảm 39,92% và tại Dự án 2 giảm 44,59%. Ngược lại, nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và làm thuê gia tăng mạnh mẽ, chiếm trên 65% tổng thu nhập của các hộ gia đình sau thu hồi đất.
Thứ ba, cơ cấu lao động thay đổi đột ngột nhưng tiềm ẩn rủi ro thiếu việc làm. Sau khi mất tư liệu sản xuất, người dân chủ động chuyển đổi sang các công việc dịch vụ như buôn bán nhỏ lẻ, chạy xe ôm, cơ khí hoặc công nhân thời vụ. Dù vậy, tỷ lệ lao động trong độ tuổi chưa tìm được việc làm tại Dự án 1 là 3,61% và tại Dự án 2 là 3,35%. Nhóm lao động trên 45 tuổi chịu rủi ro cao nhất khi có tới hơn 70% gặp trở ngại lớn trong việc tiếp cận các chương trình đào tạo nghề và tuyển dụng công nghiệp.
Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất và tiện nghi sinh hoạt của người dân được nâng cao đáng kể. Nhờ nguồn tiền bồi thường, 82% số hộ đã đầu tư xây dựng, sửa sang nhà cửa khang trang hơn, trên 90% hộ gia đình trang bị đầy đủ phương tiện đi lại như xe máy, thiết bị nghe nhìn và các đồ dùng sinh hoạt tiện nghi. Đồng thời, hệ thống hạ tầng kỹ thuật (giao thông, lưới điện) và hạ tầng xã hội (trường học, trạm y tế) trong khu vực được nâng cấp đồng bộ.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc thu nhập bình quân tăng lên không xuất phát từ việc gia tăng năng suất nông nghiệp mà nhờ vào dòng tiền bồi thường hỗ trợ và cơ hội kinh doanh dịch vụ phụ trợ từ quá trình đô thị hóa. Khi đất nông nghiệp bị thu hẹp, người dân buộc phải chuyển hướng sang lĩnh vực phi nông nghiệp. Tuy nhiên, tính bền vững của nguồn thu nhập này vẫn là một thách thức lớn khi đa phần việc làm mới mang tính chất phi chính thức, bấp bênh và dễ bị tổn thương trước biến động thị trường.
Khi so sánh với khảo sát của Đại học Cần Thơ tại khu vực Tây Nam Bộ (với 37% hộ dân khó thích nghi nghề nghiệp mới và lao động trên 45 tuổi hầu như bị đào thải khỏi khu công nghiệp), thực trạng tại huyện Thanh Trì cho thấy sự tương đồng rõ nét về rào cản độ tuổi và tác phong công nghiệp của lao động nông thôn. Mặc dù các chính sách như Quyết định 1956/QĐ-TTg và Quyết định 63/2015/QĐ-TTg đã ban hành khung hỗ trợ học nghề từ 3.000.000 đồng/khóa, tỷ lệ lao động tham gia học nghề tại địa phương chỉ đạt dưới 15% do nhận thức còn hạn chế và các lớp đào tạo chưa sát với nhu cầu tuyển dụng thực tế.
Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, các dữ liệu định lượng có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ cột kép so sánh cơ cấu thu nhập (nông nghiệp đối chiếu với phi nông nghiệp) trước và sau thu hồi đất tại 2 dự án, kết hợp cùng bảng thống kê phân tầng tỷ lệ việc làm theo nhóm tuổi (dưới 35 tuổi, từ 35 đến 45 tuổi và trên 45 tuổi) nhằm làm nổi bật sự phân hóa cơ hội việc làm của người dân.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm ổn định và nâng cao bền vững đời sống, việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
-
Hoàn thiện và mở rộng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp:
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định 63/2015/QĐ-TTg, nâng định mức chi hỗ trợ đào tạo nghề sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng từ mức 3.000.000 đồng lên 4.500.000 đồng/lao động/khóa học. Giai đoạn thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020, hướng tới mục tiêu tối thiểu 70% lao động bị thu hồi đất trong độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi được trang bị chứng chỉ nghề phù hợp với nhu cầu của các khu đô thị mới.
-
Thiết lập quỹ hỗ trợ vốn vay ưu đãi và phát triển kinh tế dịch vụ:
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Trì cần chủ trì giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm theo Nghị định 61/2015/NĐ-CP, nâng mức dư nợ vay tối đa lên 50.000.000 đồng/hộ với lãi suất ưu đãi tương đương hộ nghèo trong kỳ hạn 36 tháng. Mục tiêu giải ngân trong vòng 6 đến 12 tháng sau khi có quyết định thu hồi đất nhằm giúp ít nhất 85% số hộ mất đất trên 70% có đủ nguồn vốn mở cửa hàng kinh doanh, dịch vụ thương mại nhỏ.
-
Ràng buộc trách nhiệm tuyển dụng của các doanh nghiệp và chủ đầu tư:
Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì phối hợp với các chủ đầu tư dự án Cửa ô phía Nam và hạ tầng nhà ở Ngũ Hiệp - Tứ Hiệp đưa điều khoản bắt buộc vào hồ sơ mời thầu: cam kết tuyển dụng tối thiểu 20% đến 30% lao động địa phương có đất bị thu hồi vào các vị trí vận hành hạ tầng, dịch vụ đô thị, bảo vệ hoặc tạp vụ. Thời hạn hoàn tất ký kết hợp đồng lao động trong vòng 6 tháng kể từ khi dự án đi vào vận hành khai thác.
-
Tăng cường minh bạch quản lý đất đai và tư vấn tài chính cho người dân:
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Trì cùng Ủy ban nhân dân các xã Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp phải công khai 100% phương án bồi thường, bảng giá đất và quy hoạch phân khu ít nhất 90 ngày trước khi ban hành quyết định thu hồi. Đồng thời, tổ chức các lớp phổ biến kỹ năng quản lý tài chính cá nhân, định hướng người dân sử dụng 40% đến 50% số tiền bồi thường vào sản xuất kinh doanh hoặc gửi tiết kiệm dài hạn thay vì tiêu dùng lãng phí, giúp giảm tỷ lệ khiếu nại đất đai xuống dưới 3%/năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách đất đai:
Cán bộ tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện có thể sử dụng các số liệu thực chứng từ 180 hộ khảo sát để đánh giá hiệu lực của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP, từ đó xây dựng các chính sách bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề sát với thực tiễn các vùng ven đô thị.
-
Ban quản lý dự án và các chủ đầu tư bất động sản, hạ tầng:
Các doanh nghiệp đầu tư có thể áp dụng các phát hiện về biến động việc làm và tâm lý của 906 hộ dân trong vùng dự án để chủ động thiết kế phương án giải phóng mặt bằng hài hòa, xây dựng chính sách tiếp nhận lao động bản địa, giúp rút ngắn tiến độ bàn giao mặt bằng từ 3 đến 6 tháng.
-
Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý đất đai:
Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, cách thức xây dựng phiếu điều tra xã hội học và khung phân tích định lượng tác động kinh tế - xã hội đối với 2 dự án điển hình tại Hà Nội.
-
Chuyên gia tư vấn an sinh xã hội và các tổ chức phi chính phủ:
Các chuyên gia nghiên cứu phát triển có thể khai thác mô hình đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế để xây dựng các chương trình can thiệp hỗ trợ nhóm lao động yếu thế trên 45 tuổi sau khi bị thu hồi tư liệu sản xuất nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Việc thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Thanh Trì ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập của người dân?
Thu nhập bình quân của các hộ dân khảo sát tăng trưởng từ 41,91% đến 51,71% sau thu hồi đất. Cụ thể, tại Dự án 1, thu nhập tăng từ 7.806.912 đồng lên 11.844.144 đồng/người/năm; tại Dự án 2, thu nhập tăng từ 7.586.136 đồng lên 10.765.500 đồng/người/năm nhờ dịch chuyển sang các hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại.
Tỷ lệ lao động mất việc làm sau khi thu hồi đất tại 2 dự án là bao nhiêu?
Khảo sát thực tế ghi nhận tỷ lệ lao động trong độ tuổi không có việc làm tại Dự án Cửa ô phía Nam là 3,61% và tại Dự án hạ tầng nhà ở Ngũ Hiệp - Tứ Hiệp là 3,35%. Tình trạng thiếu việc làm tập trung chủ yếu ở nhóm lao động trên 45 tuổi do khó đáp ứng yêu cầu tuyển dụng công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật cao.
Vì sao cơ cấu nguồn thu từ nông nghiệp giảm sâu nhưng thu nhập tổng thể của hộ dân vẫn tăng?
Nguồn thu từ nông nghiệp giảm 39,92% tại Dự án 1 và 44,59% tại Dự án 2 do diện tích đất canh tác bị thu hồi hoàn toàn. Tuy nhiên, nguồn tiền bồi thường kết hợp với cơ hội mở cửa hàng kinh doanh nhỏ, làm dịch vụ và lao động phi nông nghiệp ven đô đã bù đắp và tạo ra nguồn thu cao gấp 1,4 đến 1,5 lần so với canh tác truyền thống.
Nhóm đối tượng lao động nào gặp nhiều khó khăn nhất trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp?
Nhóm lao động trên 45 tuổi và lao động chưa qua đào tạo chuyên môn (chiếm hơn 80% tổng số lao động nông nghiệp) gặp khó khăn lớn nhất. Nhóm này khó tiếp thu các khóa học nghề mới và không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng gắt gao của các doanh nghiệp công nghiệp, dẫn tới nguy cơ bấp bênh sinh kế kéo dài.
Phương pháp chọn mẫu nào đã được tác giả áp dụng để bảo đảm tính khách quan của dữ liệu?
Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với cỡ mẫu 180 hộ (chia đều 90 hộ cho mỗi dự án). Mẫu được phân tách thành 3 nhóm dựa trên tỷ lệ đất bị thu hồi: dưới 30%, từ 30% đến 70%, và trên 70% tổng diện tích đất nông nghiệp, bảo đảm phản ánh chính xác các mức độ tác động sinh kế khác nhau.
Kết luận
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai của tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về tác động kinh tế - xã hội của quá trình thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội:
- Thu nhập bình quân đầu người tại 2 dự án tăng từ 41,91% đến 51,71%, đạt mức 10,76 đến 11,84 triệu đồng/người/năm sau khi thu hồi đất.
- Cơ cấu nguồn thu từ nông nghiệp sụt giảm mạnh từ 39,92% đến 44,59%, thúc đẩy chuyển dịch mạnh mẽ sang thương mại và dịch vụ phi nông nghiệp.
- Tỷ lệ lao động thất nghiệp trong độ tuổi dao động từ 3,35% đến 3,61%, trong đó nhóm lao động trên 45 tuổi đối mặt với rủi ro mất an toàn sinh kế cao nhất.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện nhà ở của trên 80% hộ dân được cải thiện rõ rệt nhờ sử dụng hiệu quả một phần nguồn tiền bồi thường, hỗ trợ.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách đào tạo theo Quyết định 63/2015/QĐ-TTg, hỗ trợ vay vốn ưu đãi, ràng buộc trách nhiệm nhà đầu tư và minh bạch quy hoạch cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác quản trị đất đai giai đoạn 2016-2020.
Để bảo đảm quá trình đô thị hóa diễn ra bền vững và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị của công trình nghiên cứu này vào thực tiễn quy hoạch và bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn Thủ đô.