ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ngô (Zea mays L) là một trong ba cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn thế giới. Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lượng thực chính. Không chỉ cung cấp lượng thực cho con người, ngô còn là nguồn thức ăn cung cấp cho chăn nuôi, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trên toàn thế giới. Hiện nay 66% sản lượng ngô của thế giới được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, trong đó các nước phát triển là 76% và các nước đang phát triển là 57%.
Tuy chỉ có 21% sản lượng ngô được dùng làm lượng thực cho con người nhưng nhiều nước vẫn coi ngô là cây lương thực chính, như: Mêxicô, Ấn Độ, Philipin. Ở Ấn Độ có tới 90% sản lượng ngô, ở Philipin có 66% sản lượng ngô được dùng làm lương thực cho con người (Dương Văn Sơn và cs, 1997). Chính nhờ những vai trò quan trọng của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nên trong hơn 40 năm gần đây, ngành sản xuất ngô thế giới tăng liên tục và giữ vị trí hàng đầu về năng suất và sản lượng trong những cây lương thực chủ yếu. Năm 1961 diện tích trồng ngô chỉ đạt khoảng 105,48 triệu ha với tổng sản lượng là 205,00 triệu tấn, nhưng đến năm 2007 diện tích trồng ngô đã đạt 157,87 triệu ha với sản lượng 784,81 triệu tấn (theo thống kê của FAO, 2008).
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực có vị trí quan trọng được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Theo thống kê 2007, diện tích trồng ngô cả nước là 1.072,6 nghìn ha, năng suất đạt 39,6 tạ/ha và sản lượng đạt 4. Năm 2010, diện tích ngô cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn. Ngày nay, ở Việt Nam, việc sử dụng các giống ngô lai để tăng năng suất đã trở nên phổ biến và được trồng rộng rãi ở khắp mọi nơi.
Trong đó, giống ngô lai NK4300 là giống có nguồn gốc từ Thái Lan với thời gian sinh trưởng trung bình, khả năng chống đổ, chống úng và hạn tốt và tiềm năng năng suất cao (80 – 100 tạ/ha) đang được trồng ở nhiều địa phương. Bên cạnh việc sử dụng các giống ngô lai để tăng năng suất ngô, các biện pháp canh tác, kỹ thuật cũng được chú trọng, cải tiến. Trong đó, một hướng đi mới hiện nay là tăng mật độ gieo trồng bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa các 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng và khoảng cách giữa các cá thể, và nghiên cứu để chọn liều lượng đạm phù hợp cho từng giống ngô, từng mật độ và từng vùng trồng. Huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh là một huyện miền núi với nhiều loại địa hình khác nhau, ngô được trồng trên đất dốc vùng núi, trung du và đồng bằng ven biển.
Để từng bước ứng dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ngô tại địa phương, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô NK4300 trồng tại huyện Hoành Bồ - Tỉnh Quảng Ninh”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Xác định ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân đạm đến sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của giống ngô NK4300 trồng tại Huyện Hoành Bổ, tỉnh Quảng Ninh. - Lựa chọn mật độ trồng và lượng phân đạm thích hợp bổ sung vào quy trình thâm canh giống ngô NK4300 tại Quảng Ninh. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới Cây ngô là một trong những cây lương thực chính trên thế giới, được sử dụng trong nhiều mục đích như lương thực cho con người, thức ăn cho gia súc, gia cầm, nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm, … Trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ ngô cho các lĩnh vực tiếp tục tăng. Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (2003), vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp.
Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển sử dụng 22% ngô làm lương thực. Đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam Á nhu cầu tăng 70% so với năm 1997, sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng nên nhu cầu thịt, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng. Tại các nước phát triển ở Châu Âu và Bắc Mĩ gần 90% ngô được dùng trong chăn nuôi. Trên thế giới 70% sản lượng ngô dùng làm thức ăn gia súc.
Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 1997 2020 Vùng % thay đổi (triệu tấn) (triệu tấn) Thế giới 586 852 45 Các nước đang phát triển 295 508 72 Đông Á 136 252 85 Nam Á 14 19 36 Cận Sahara- châu Phi 29 52 79 Mỹ La Tinh 75 118 57 Tây và Bắc Phi 18 28 56 Nguồn: IPRI (2003) 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước nhu cầu tiêu thụ của thị trường và do có nền di truyền rộng và thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau nên cây ngô được trồng hầu hết ở các nước trên thế giới. Và từ những năm cuối của thế kỉ 20, với sự ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong chọn tạo giống cùng với việc cải tiến, thay đổi các biện pháp thâm canh, nghề trồng ngô đã có những bước tiến vượt bậc, phần nào đáp ứng được nhu cầu về cây ngô.2 cho thấy: hiện nay, sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không ngừng cả về diện tích và năng suất, dẫn đến sản lượng tăng. Trong vòng 5 năm gần đây (2009 – 2013), diện tích tăng từ 158,74 triệu ha lên 185,12 triệu ha; năng suất năm 2009 là 5,17 tấn/ha nhưng đến năm 2013 là 5,50 tấn/ha, tăng 0,33 tấn/ha. Do đó, sản lượng cũng tăng nhanh từ 820,20 triệu tấn lên 1018,11 trong vòng 5 năm (FAOSTAT, 2015).
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ năm 2009 – 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (Triệu ha) ( Tấn/ha) (Triệu tấn) 2009 158,74 5,17 820,20 2010 164,03 5,19 851,26 2011 171,69 5,17 887,67 2012 179,22 4,9 877,92 2013 185,12 5,5 1018,11 Nguồn: FAOSTAT (2015) Hiện nay, trong số các nước trồng ngô lớn nhất thế giới, Trung Quốc là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới, nhưng năng suất của Mỹ cao hơn Trung Quốc nên sản lượng của Mỹ vẫn cao nhất trên thế giới, sau đó là Brazil và Ấn Độ. Mặc dù, năng suất của Ấn Độ thấp hơn của Mexico nhưng do diện tích của Ấn Độ lớn hơn nên sản lượng của Ấn Độ cao hơn Mexico. Năng suất của Đức và Italia tuy cao hơn một số nước nhưng do diện tích trồng ít hơn hẳn nên sản lượng vẫn thấp hơn các nước ở tốp trên. Tuy Israel là nước có diện tích ít nhất trong số các nước trên nhưng năng suất lại cao nhất thế giới, cao gấp hơn 2 lần năng suất của nước Mỹ.
Số liệu chi tiết được thể hiện qua bảng 2. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,48 9,97 353,70 Trung Quốc 36,34 6,01 218,62 Brazil 15,28 5,25 80,27 Ấn Độ 9,50 2,45 23,30 Mexico 7,10 3,19 22,66 Italia 0,91 8,70 7,90 Đức 0,50 8,83 4,39 Israel 0,005 22,56 0,11 Nguồn: FAOSTAT, 2015 Tóm lại, trước nhu cầu tiêu thụ ngô trên thế giới ngày càng nhiều, nghề sản xuất ngô trên thế giới cũng ngày càng phát triển cả về diện tích, sản lượng và khu vực gieo trồng. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam Ở nước ta, nhu cầu sử dụng ngô rất lớn.
Cây ngô là cây lương thực chính thứ hai sau lúa nước. Ở một số vùng thì ngô lại là cây lương thực chính như nhân dân các dân tộc vùng Tây Bắc và Đông Bắc sử dụng 50% – 60% ngô trong các bữa ăn hàng ngày, có một số nơi người dân ăn ngô từ 5 – 6 tháng liền (Ngô Hữu Tình, 2003). Ngoài vai trò làm lương thực cho người (17%), thì lượng lớn ngô được làm thức ăn cho chăn nuôi (gần 70%) và một lượng nhỏ làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và công nghiệp nhẹ khác (khoảng 10%) (Ngô Hữu Tình, 2009). Cùng với sự tiến bộ của toàn thế giới, việc phát triển sản xuất ngô của Việt Nam trong vài thập niên cuối của thế kỉ 20 cũng thu được những kết quả quan trọng.
Nhờ có những chính sách khuyến khích của Đảng và Nhà nước trong việc áp dụng thành công những tiến bộ khoa học kĩ thuật về giống, kĩ thuật canh tác vào sản xuất nên cây ngô đã có những bước tiến mạnh về diện tích, năng suất và sản lượng. Năng suất ngô Việt Nam đến cuối những năm 1970 chỉ đạt 10 tạ/ha do trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu. Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với CIMMYT, nhiều giống ngô cải tiến đã được trồng ở nước ta, góp phần đưa năng suất lên gần 15 tạ/ha vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc mở rộng giống lai và cải thiện các 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp kỹ thuật canh tác.
Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến 1% trên hơn 400 nghìn ha trồng ngô, năm 2007 giống lai đã chiếm khoảng 95% trong số hơn 1 triệu ha. Năm 1994, sản lượng ngô Việt Nam vượt ngưỡng 1 triệu tấn, năm 2000 vượt ngưỡng 2 triệu tấn. Sản xuất ngô ở nước ta có được sự phát triển như ngày hôm nay cũng đã phải trải qua nhiều bước tiến. Sản xuất có thể được chia thành 3 giai đoạn chính.
Giai đoạn 1: trước năm 1975, do điều kiện kinh tế khó khăn, tình hình đất nước chưa thống nhất nên cây ngô chưa được chú trọng, khi đó, diện tích đạt 229 nghìn ha, năng suất đạt 1,14 triệu tấn/ha, với sản lượng bình quân 260,1 nghìn tấn/ năm. Giai đoạn 2: từ năm 1975- 1994, diện tích trồng ngô tăng chậm, từ 229,2 ha (1975) lên 534,6 nghìn ha (1994).