ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng và trồng phổ biến nhất thế giới tại tất cả các châu lục đặc biệt là khu vực Châu Á, trong đó Việt Nam là nước có truyền thống canh tác lúa nước từ lâu đời với diện tích lúa khá lớn. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển và ra đời của những thành tựu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nghề trồng lúa của nước ta đã có nhiều thay đổi tích cực. Từ một nước thiếu đói lương thực thường xuyên đến nay sản lượng lúa gạo của chúng ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực ở trong nước mà còn dư để xuất khẩu và là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo lớn trên thế giới. Tuy nhiên, việc thâm canh lúa với mức đầu tư cao về phân bón hóa học, đặc biệt là phân đạm đang để lại hậu quả rất xấu cho môi trường sinh thái, làm ô nhiễm các nguồn tài nguyên như đất và nước, ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Việc bón phân không cân đối, quá thừa hoặc quá thiếu không những không thể phát huy tiềm năng năng suất lúa một cách cao nhất mà còn gây nên những bất thuận cho sự phát triển của cây lúa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển và lây lan của sâu bệnh hại. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, đạm có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của việc sử dụng phân bón cho cây trồng. Các loại phân khác chỉ phát huy tác dụng khi có đủ đạm hay bón cân đối đạm theo nhu cầu của cây. Vì vậy, khi xác định các loại phân bón khác cần trên cơ sở lượng đạm bón.
Nếu chưa tăng được lượng phân đạm bón thì chưa lên tăng các loại phân bón khác. Mặt khác, nhu cầu về đạm của các giống lúa, đặc biệt là giữa lúa lai và lúa thuần là khác nhau. Lúa lai có đặc tính đẻ nhánh nhiều và đẻ tập trung hơn lúa thuần, do đó yêu cầu dinh dưỡng của lúa lai nhiều hơn lúa thuần. Chính vì vậy, những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra giải pháp trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm, việc lựa chọn mức phân đạm hợp lý cho từng loại giống có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Thanh Hoá là tỉnh nông nghiệp ở Bắc Trung bộ có diện tích và sản lượng lúa gạo lớn trong khu vực, đây là cây trồng chủ lực của tỉnh, đóng góp vai trò quan trọng đối với anh ninh lương thực và kinh tế của khu vực. Trong những 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm gần đây, Thanh Hóa đặc biệt chú trọng mở rộng diện tích trồng lúa lai và một số giống lúa thuần chất lượng nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng lúa gạo sản xuất. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất người dân thường không sử dụng lượng phân bón theo hướng dẫn kỹ thuật với từng loại giống cụ thể mà bón phân theo tập quán canh tác, không có sự phân biệt giữa các giống lúa. Vì vậy, dẫn đến hiện tượng thừa và thiếu phân đạm làm hạn chế năng suất của của giống.
Trên cơ sở đó, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm và xác định được lượng phân đạm hợp lý theo nhu cầu của giống lúa thuần và lúa lai đang được trồng phổ biến tại địa phương, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất của lúa thuần và lúa lai tại Triệu Sơn – Thanh Hóa”. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI - So sánh và đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa thuần và lúa lai. - Xác định mức phân đạm thích hợp cho giống lúa lai ZZD001 và giống lúa thuần TBR45 được trồng tại Triệu Sơn – Thanh Hóa. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Lúa là cây lương thực chiếm một vị trí rất quan trọng trên thế giới, đặc biệt đối với các nước ở khu vực Châu Á lúa là nguồn lương thực chính giống như lúa mì, kê, bắp ở các nước Châu Âu, Châu Phi và Nam Mỹ. Theo số liệu của FAO năm 2008 có 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các Châu lục trên thế giới.
Trong đó, Châu Phi có 41 nước trồng lúa, Châu Á- 30 nước, Bắc Trung Mỹ - 14 nước, Nam Mỹ - 13 nước, Châu Âu - 11 nước và Châu Đại Dương- 5 nước. Diện tích lúa biến động và đạt khoảng 152.000 triệu ha, năng suất lúa bình quân xấp xỉ 4,0 tấn/ha. Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất 44.790 triệu ha, ngược lại Jamaica là nước có diện tích trồng lúa thấp nhất 24 ha. Trong 25 nước sản xuất chủ yếu thì 17 nước thuộc khu vực Châu Á chiếm 91% diện tích, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có sản lượng lúa chiếm 55% tổng sản lượng lúa trên thế giới.
Diện tích và sản lượng lúa gạo thế giới 2005-2014 Nguồn: Webside Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp (2014) 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2013 mặc dù được dự báo là một trong những khu vực có sản lượng lúa gạo suy giảm nhưng Châu Á vẫn có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng sản lượng lúa gạo trong niên vụ 2013. Sản lượng gạo tại khu vực này đạt 448,6 triệu tấn, tăng 1,2 triệu tấn so với niên vụ 2012. Đứng đầu trong khu vực là các nước Ấn Độ, Inđônêsia, Thái Lan, Myanmar và Bangladesh. Ngược lại, hạn hán ở các tỉnh miền Trung và phía đông của Trung Quốc đã gây ra thiệt hại nặng nề vào giữa và cuối vụ mùa làm sản lượng lúa gạo giảm mạnh.
Nhật Bản, Malaysia và Philippin cũng có thể phải đối mặt với những khó khăn tương tự. Tại Philippin, siêu bão Haiyan ảnh hưởng không đáng kể lên vụ mùa chính do lúa gạo đã được thu hoạch gần xong trước đó. Năm 2014, sản lượng lúa gạo ở khu vực châu Á được dự báo đạt 453,2 triệu tấn chỉ tăng 0,5% so với mùa vụ trước. Tốc độ tăng trưởng chậm chạp tại khu vực này không chỉ là do những tác động của điều kiện thời tiết xấu mà còn do tình hình giá cả không thuận lợi.
Sự tăng trưởng của khu vực có được chủ yếu nhờ sự phục hồi của Trung Quốc sau mùa vụ năm 2013 bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi thời tiết khô hanh và bão lớn. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Nước ta có địa bàn trải dài 15 độ vĩ từ Bắc vào Nam hình thành hai vựa lúa khổng lồ là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằn Sông Cửu Long. Cây lúa là cây trồng chính trong hệ thống sản xuất nông nghiệp của nước ta. Nhờ việc đưa giống mới, tăng diện tích và áp dụng các biện pháp ký thuật trong thâm canh, chúng ta từ một nước thiếu ăn phải nhập khẩu gạo đã trở thành một trong những nước xuất những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới như ngày nay.
Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưa nhất thế giới. Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước. Dân số nước ta đến nay hơn 90 triệu người, trong đó dân số ở nông thôn chiếm gần 80% và lực lượng lao động trong nghề trồng lúa chiếm 72% lực lượng lao động cả nước. Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích canh tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng cây lương thực. Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đó lúa giữ vị trí độc tôn, gần 85% diện tích lương thực 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1990 6,04 31,8 19,23 1995 6,77 36,9 24,97 2000 7,67 42,4 32,51 2005 7,30 48,9 35,79 2010 7,49 53,4 49,99 2011 7,67 55,3 42,31 2012 7,75 56,0 43,70 2013 7,90 55,7 44,10 2014 7,8 57,4 44,84 Nguồn: FAOSTAT (2013); Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam Một đặc điểm khác của sản xuất nông nghiệp của nước ta nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng là trải dài trên bảy vùng sinh thái từ Bắc vào Nam. Trong đó, đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng là hai vựa lúa lớn nhất của cả nước, hàng năm chiếm gần 70% tổng sản lượng lúa của cả nước.
Đối với những vùng còn lại do điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên sản lượng chỉ chiếm một phần nhỏ so với hai vùng trên (Bảng 2. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sản lượng lúa 7 vùng của nước ta. Đơn vị: Triệu tấn Vùng Trung Duyên Đồng du và Khu hải Đông Đồng Cả bằng Tây miền bốn Nam Nam bằng sông nước sông Nguyên núi phía cũ Trung Bộ Cửu Long Năm Hồng Bắc Bộ 2000 32,53 2,29 6,76 2,82 2,15 0,59 1,21 16,72 2001 32,11 2,50 6,61 2,97 2,18 0,65 1,21 16,00 2002 34,45 2,63 6,95 3,16 2,18 0,61 1,21 17,20 2003 34,57 2,75 6,70 3,22 2,35 0,75 1,27 17,53 2004 36,15 2,82 6,93 3,38 2,39 0,78 1,28 18,57 2005 35,83 2,86 6,40 3,17 2,17 0,72 1,21 19,30 2006 35,84 2,90 6,73 3,48 2,47 0,88 1,16 18,23 2007 35,94 2,89 6,50 2,98 2,78 0,87 1,24 18,68 2008 38,73 2,90 6,79 3,26 2,85 0,94 1,32 20,67 2009 38,95 3,05 6,80 3,28 2,97 1,00 1,33 20,52 2010 39,99 3,08 6,80 3,11 3,05 1,04 1,33 21,57 Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam (2013) Khi nước ta gia nhập vào AFTA đã có nhiều cơ hội, nhưng cũng có rất nhiều thách thức mới đối với nền kinh tế nước ta nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng.
Do đó cần phải khắc phục những hạn chế của các vùng sinh thái để từ đó thu hẹp sự chênh lệch về năng suất giữ các vùng, phát huy những thế mạnh vốn có để tận dụng những cơ hội mới góp phần phát triển kinh tế. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa thuần và lúa lai 2.