Chương 1: Khái quát chung về nuôi con nuôi và con nuôi thực tế ở Việt Nam. Chương 2: Pháp luật hiện hành về nuôi con nuôi thực tế Chương 3: Thƣ̣c tra ̣ng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuô i thực tế ở Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm chung 1.
Khái niệm con nuôi và cha, mẹ nuôi Khái niệm về con nuôi – cha, mẹ nuôi trƣớc đây đã đƣợc đề cập trong các tài liệu liên quan nhƣng chỉ khi Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời thì khái niệm trên đã chính thức đƣợc Luật định rõ nhằm tạo ra cách hiểu chung, thống nhất về con nuôi và cha, mẹ nuôi. Theo đó, Luật nuôi con nuôi năm 2010 khái niệm về con nuôi và cha, mẹ nuôi nhƣ sau: - Con nuôi là “người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký”[22, Điều 3]. Từ khái niệm trên có thể hiểu con nuôi là một ngƣời đƣợc ngƣời khác nhận làm con nhƣng không trực tiếp sinh ra nhƣ quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ mà đƣợc hình thành bằng con đƣờng nhân tạo đó là quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, ngƣời con nuôi là ngƣời sẽ đƣợc ngƣời khác chăm sóc, nuôi dƣỡng nhƣ con đẻ, ngƣời nuôi dƣỡng đó gọi là cha, mẹ nuôi. Con nuôi có thể là trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Cha, mẹ nuôi là “Người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” [22, Điều3]. Từ hai khái niệm trên cho thấy giữa con nuôi – cha, mẹ nuôi hình thành mối quan hệ chăm sóc, nuôi dƣỡng nhƣ cha, mẹ đẻ và con đẻ dựa trên quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền - cầu nối cho ý chí, nguyện vọng của các bên tham gia quan hệ nuôi con nuôi đƣợc thực hiện. Nhƣ vậy, quan hệ gia đình (quan hệ cha, mẹ và con) giữa ngƣời nhận con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi phải đƣợc nhà nƣớc công nhận. Việc nuôi con nuôi đƣợc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện có thể do cha, mẹ nuôi cùng nhận con nuôi hoặc có thể làm con nuôi của ngƣời đơn thân đều đƣợc pháp luật công nhận.
Khái niệm nuôi con nuôi và nuôi con nuôi thực tế 1. Khái niệm nuôi con nuôi Nuôi con nuôi - một hiện tƣợng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Nuôi con nuôi là “việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi”[23, Tr180]. Theo Điều 3 Luật nuôi con nuôi giải thích:“Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”.
Nhƣ vậy, quan hệ cha, mẹ nuôi - con nuôi là quan hệ ràng buộc giữa bên nhận nuôi và bên đƣợc nhận, mặc dù các bên có thể có quan hệ họ hàng nhƣng khi đã phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đăng ký thì các bên phải đối xử với nhau theo đúng quan hệ cha mẹ con, ngƣời nuôi xem nhƣ cha mẹ của ngƣời đƣợc nuôi, dù không sinh ra ngƣời đƣợc nuôi; đối với ngƣời đƣợc nuôi có quyền và nghĩa vụ coi ngƣời nuôi nhƣ cha, mẹ ruột. Đó là quan hệ cha mẹ con không đƣợc xác lập bằng con đƣờng sinh sản mà theo quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng của các đƣơng sự, đặc biệt là của ngƣời nuôi. Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh giữa ngƣời nhận nuôi con nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi đầy đủ các quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con không phân biệt đối xử giữa cha, mẹ nuôi với cha mẹ đẻ, con nuôi với con đẻ, các bên đều đƣợc đối xử nhƣ nhau và việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đã đƣợc đăng ký theo quy định của pháp luật. Việc nuôi con nuôi phải đăng ký và do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền tiến hành đăng ký, các nghi thức nhận nuôi con nuôi khác (nhƣ giấy tờ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viết tay giữa cha mẹ đẻ cho con đẻ của mình làm con nuôi ngƣời khác hay ngƣời nhận con nuôi lập đàn lễ cúng tế tổ tiên về việc nhận con nuôi hoặc nhặt đƣợc trẻ bị bỏ rơi thì mang về nuôi mà không khai báo, đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền) về nguyên tắc đều không có giá trị pháp lý và không đƣợc nhà nƣớc công nhận, giữa ngƣời nhận con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi không có các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con theo quy định của pháp luật [24, tr3].
Nhƣ vậy, quan hệ gia đình, quan hệ cha, mẹ - con giữa ngƣời nhận nuôi con nuôi với ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi đƣợc hình thành từ quan hệ nuôi dƣỡng, chăm sóc và phải đƣợc nhà nƣớc công nhận. Khái niệm nuôi con nuôi thực tế Cũng giống nhƣ quan hệ pháp luật nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi thực tế đƣợc hình thành trên cơ sở nguyện vọng của các bên đƣơng sự. Việc nhận con nuôi phải theo đúng quy định của pháp luật về nuôi con nuôi và mang đúng bản chất, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi, ngƣời con nuôi cùng chung sống với gia đình cha, mẹ nuôi, giữa ngƣời nhận nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ con, không phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi, các bên có quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con đối với nhau để xây dựng gia đình thực sự. Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung của việc nuôi con nuôi nói chung thì nuôi con nuôi thực tế có điểm riêng biệt ở chỗ việc nuôi con nuôi phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện của pháp luật nuôi con nuôi tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi không trái mục đích, đạo đức xã hội.
Các bên phát sinh quan hệ nuôi con nuôi có thể bằng văn bản thỏa thuận hoặc bằng lời nói.mà không đƣợc đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi. Tại thời điểm Luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực, quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại và cả hai bên đều còn sống, đƣợc mọi ngƣời xung quanh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thừa nhận thì quan hệ của họ sẽ đƣợc pháp luật công nhận, có giá trị pháp lý kể tử thời điểm phát sinh và các bên thực hiện đi đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực thi hành. Có quan điểm cho rằng: “con nuôi thực tế cũng giống nhƣ con nuôi trên danh nghĩa, là sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình về việc nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, (có một số ít trƣờng hợp có văn bản viết tay giữa hai gia đình). Tuy nhiên loại con nuôi này khác với con nuôi trên danh nghĩa là ngƣời con nuôi ở hẳn với cha, mẹ nuôi và gắn bó với cha mẹ nuôi”[3, tr70].
Có thể nhận thấy quan hệ con nuôi thực tế và con nuôi danh nghĩa có dấu hiệu giống nhau là đều không đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, song về bản chất của hai quan hệ là khác nhau. Con nuôi thực tế là ngƣời đƣợc nhận làm con trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, giữa ngƣời nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con đối với nhau, nhƣng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền [13]. Vậy có thể định nghĩa nuôi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa ngƣời nhận con nuôi và ngƣời đƣợc nhận làm con nuôi trên thực tế đời sống xã hội mà chƣa đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền gọi là nuôi con nuôi thực tế. Đặc điểm của quan hệ nuôi con nuôi thực tế - Nuôi con nuôi thực tế xuất phát từ yếu tố tình cảm: Việc nuôi con nuôi phát sinh có thể do nhiều lý do khác nhau nhƣng yếu tố chi phối đầu tiên và không thể thiếu đó là xuất phát yếu tố tình cảm, bởi cũng giống nhƣ việc nuôi con nuôi nói chung, trong nuôi con nuôi thực tế giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi hình thành mối quan hệ cha, mẹ và con, các bên đã thực hiện việc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chăm sóc và nuôi dƣỡng nhau trên thực tế.
Vì vậy mà nuôi con nuôi thực tế phải xuất phát từ yếu tố tình cảm thì các bên mới có thể xây dựng và vun đắp tình cảm cha, mẹ con bền vững. - Nuôi con nuôi thực tế là quan hệ lâu dài, bền vững: Giữa ngƣời nhận nuôi và ngƣời đƣợc nhận nuôi đã phát sinh quan hệ cha mẹ con từ trƣớc khi đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, các bên đã xây dựng tình cảm, gắn kết giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi, tự nguyện thực hiện việc chăm sóc, nuôi dƣỡng nhau xuất phát từ tình cảm mà không phải theo sự áp đặt từ yếu tố bên ngoài. Vì vậy mà nuôi con nuôi thực tế là quan hệ lâu dài, bền vững. - Các bên tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ: Nuôi con nuôi xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của các bên chủ thể, Nhà nƣớc không thể dùng pháp luật để ép buộc các bên phải tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi nếu nhƣ họ không muốn.
Vì vậy mà các bên hình thành mối quan hệ cha, mẹ và con bền vững, sống chung một mái nhà, gắn bó tình cảm nhƣ ngƣời ruột thịt nên các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ, nuôi và con nuôi đƣợc thực hiện xuất phát từ ý chí, tự giác của các bên mà không phụ thuộc vào tác động bên ngoài. - Gắn bó mối quan hệ cha, mẹ và con trên thực tế: Các bên đã tự nguyện bày tỏ ý chí thiết lập quan hệ cha mẹ con trên thực tế mà không có sự tham gia của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền.