Chương 1: ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ CÔNG GIÁO TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM SINH THỜI HỒ CHÍ MINH 1. Đạo công giáo ở Việt Nam 1. Vài nét sơ lược về đạo Công giáo Công giáo là tên gọi được dùng ở Việt Nam để chỉ đạo xuất phát từ Đức Giêsu Kitô, người Nazarét, xứ Palestin, một đất nước nhỏ bé nằm giữa Li băng ở phía Bắc, biển Chết ở phía Nam, Địa Trung Hải ở phía Tây và sa mạc Syri ở phía Đông trong vùng Cận Đông, vào đầu công nguyên. Tôn giáo này đã sớm lan truyền khắp đế chế Rô ma và tới châu Âu từ những thế kỷ đầu rồi từ châu Âu được truyền sang Việt Nam, một cách lẻ tẻ từ thế kỷ XVI, do các thừa sai dòng Phanxicô, dòng thánh Augustina, dòng thánh Đa Minh, và một cách liên tục từ đầu thế kỷ XVII, khởi đầu do các thừa sai dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha, kế đó là các thừa sai người Pháp thuộc hội truyền giáo nước ngoài Paris, các thừa sai người Tây Ban Nha thuộc các dòng Đa Minh, Phanxicô…[ 11] Về mặt nguồn gốc, đạo Công giáo ra đời trước hết dựa trên cở sở của đạo Do Thái.
Khoảng hơn 1000 năm trước Công nguyên, quốc gia Do Thái được thành lập theo chế độ quân chủ- chủ nô với vị vua nổi tiếng của mình là Đavít. Kể từ đó, quốc gia này trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhiều lần hưng thịnh và không ít lần suy vong. Đặc biệt vào thế kỷ VI trước Công nguyên, quốc gia này bị nhiều nước tấn công, xâu xé. Mỗi lần như vậy, người Do Thái phải lưu tán, chạy sang các nước khác lánh nạn.
Cùng với quá trình ra đời của quốc gia Do Thái, đạo Do Thái được hình thành. Trong thân phận bấp bênh lưu đày của mình, người Do Thái không nguôi nhớ về Tổ quốc và thời kỳ vàng son của dân tộc mình. Các nhà tri thức Do Thái lưu vong đã viết lại cuốn lịch sử của dân tộc mình dưới dạng thần thoại và cuốn sách đó đã trở thành Kinh Thánh của đạo Do Thái. Đạo Do Thái được xây dựng trên cơ sở nhất thần giáo khá hoàn chỉnh và trở thành một trong những tiền đề tư tưởng cho nền thần học Công giáo sau này.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể thấy rằng, nội dung giáo lý cơ bản của đạo Công giáo được giữ nguyên hoặc phát triển từ những tín điều của đạo Do Thái có trước đó hàng ngàn năm. Công giáo ra đời chủ yếu dựa trên cơ sở thần học Do Thái. Đó là các quan điểm về lịch sử sáng thế, sự màu nhiệm của Đức Chúa trời, tội tổ tông truyền, linh hồn và thể xác, thiên thần và ma quỷ, thiên đàng và hỏa ngục, thế giới vĩnh hằng ở bên kia. Đạo Công giáo ra đời còn dựa trên một tiền đề tư tưởng lý luận khác đó là triết học Hy Lạp, La Mã Cổ đại (đặc biệt là triết học Khắc Kỷ với hai đại biểu điển hình là Phi lông và Sênếch).
Sênếch là người La Mã (4- 65 SCN). Ông là người sáng lập ra chủ nghĩa Khắc Kỷ, có nhiều tư tưởng đáng chú ý trong triết học Khắc Kỷ mà sau này Công giáo kế thừa, sử dụng như: Thân xác con người chỉ là gánh nặng của tâm hồn; cuộc đời nơi trần thế chỉ là giả dối; hạnh phúc và bình đẳng chỉ có ở thế giới bên kia; ông khuyên con người từ bỏ những lạc thú ở đời, khuyên con người sống đạo đức, thanh đạm; khuyên con người phục tùng số mệnh, tin và phục tùng Thượng đế. Còn Phi lông là người Hy Lạp gốc Do Thái (25 TCN- 50 SCN). Tư tưởng căn bản trong triết học của ông là: Con người chính là thủ phạm gây ra sự suy đồi đạo đức và các tệ nạn xã hội; ông chủ trương con người phải sám hối không ngừng; kêu gọi con người phải sống nhẫn nhục và khuyên con người hãy chờ đợi sự xuất hiện của đấng cứu thế.
Ngoài ra để xây dựng một giáo thuyết hoàn chỉnh, Công giáo còn sử dụng nhiều yếu tố của tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của các dân tộc vùng Trung Cận Đông. Chẳng hạn hình ảnh Chúa Giêsu được xây dựng từ rất nhiều phẩm chất thiêng liêng của các vị thần và anh hùng dân tộc như: thần Josuah (thần bộ lạc Ephraien) đã hy sinh để cứu bộ lạc mình; thần Hurulé trên núi Oc- ta được xem là con Thượng đế xuống trần chịu chết để đem lại hòa bình; thần Alonis chết đi sống lại; người anh hùng dân tộc Do Thái Yahve bị đóng đinh trên cây thập giá; Chúa Giêsu được sinh ra từ một nữ đồng trinh theo mô típ Perée được sinh ra từ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dionyo và Horus; phép Thánh Thể của Công giáo rất gần gũi với nghi lễ thiêu sinh các vật tế thần và chịu ảnh hưởng của tục uống máu của tín ngưỡng Mithra. Như vậy về mặt nguồn gốc, Công giáo đã kế thừa có chọn lọc nhiều yếu tố của Do Thái giáo, thần học Đông phương, triết học Khắc Kỷ và tín ngưỡng, tôn giáo bản địa của khu vực Trung Cận Đông để xây dựng học thuyết của mình, một học thuyết nhất thần, phổ cập, đáp ứng được sự mong đợi của nhiều dân tộc và của đông đảo quần chúng theo tôn giáo này. Kinh Cựu ước vốn là kinh của Đạo Do Thái, kể về Thiên Chúa với công việc sáng tạo ra vũ trụ và con người, kể về những phong tục tập quán của người Do Thái và loan báo, chuẩn bị cho sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế.
Kinh Tân ước tiếp nối kinh Cựu ước , kể về cuộc đời, sự nghiệp của Chúa Giêsu Kitô – Đấng Cứu thế, về quá trình hoạt động của các tông đồ và những lời dạy bảo của Chúa Giêsu và các tông đồ về con người. Tín điều cơ bản đầu tiên là Đức tin vào Thiên Chúa, vào sự mầu nhiệm của Thiên Chúa. Đây thực chất là lời đáp trả của con người đối với Thiên Chúa bởi con người khao khát có Thiên Chúa không chỉ vì nhờ có Thiên Chúa, con người mới được tạo thành, mà còn vì ở nơi Thiên Chúa, con người mới có hạnh phúc, đạt tới chân lý mà họ đang kiếm tìm. Bằng những năng lực của mình, con người có khả năng nhận ra Thiên Chúa từ những gì Người tao nên.
Và Thiên Chúa cũng tự ban chính mình cho con người, “mặc khải” tình yêu thương, phép mầu nhiệm của mình cho con người, thông qua việc cử Đức Giêsu Kittô và Thánh thần đến với con người. Qua đó, con người tin rằng Chúa có ba ngôi: Cha – Tạo dựng, Con – Cứu chuộc, Thánh thần- Thánh hóa. Thiên Chúa đã tạo ra con người gồm hai phần: thể xác và linh hồn, sau khi chết thể xác sẽ trở về với cát bụi nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn. Con người do trí khôn, lương tâm nên làm chủ thế giới muôn loài, nhưng do tính phàm tục nên mắc nhiều tội lỗi.
Chúa đã trừng phạt con người vì những lỗi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lầm của họ, nhưng sai Chúa Giêsu xuống cứu chuộc con người. Chúa Giêsu được sinh ra từ Đức mẹ Maria bằng phép mầu nhiệm của Thiên Chúa. Cái chết của Chúa Giêsu – bị đóng đinh trên cây Thập giá , sống lại và về trời - chính là biểu hiện của tình yêu, đức hy sinh và cuộc sống vĩnh hằng nơi Thiên Chúa. Đặc điểm cộng đồng Công giáo ở Việt Nam trong giai đoạn Hồ Chí Minh.
Sự du nhập của Công giáo vào Việt Nam và tình hình Công giáo ở Việt Nam đến trước năm 1945. Tình hình Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII có nhiều xáo trộn và diễn biến phức tạp. Nội bộ giai cấp thống trị hết sức lục đục vì sự tranh chấp quyền lực giữa tập đoàn phong kiến Lê -Trịnh ở Đàng Ngoài và nhà Nguyễn ở Đàng Trong dẫn đến sự chia cắt đất nước kéo dài gần 50 năm từ 1645 đến năm 1692. Sau đó là cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh với quân Tây Sơn và sự phục hồi của nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XVIII.
Những điều đó đã làm cho kinh tế trì trệ và gián đoạn, chính trị hỗn độn, đời sống của nhân dân đói khổ lầm than, nhân tâm giao động ly tán, tạo tình thế thuận lợi cho việc thâm nhập, truyền bá đạo Công giáo cũng như việc dòm ngó chinh phục của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Từ những thập niên đầu của thế kỷ XVI ở Việt Nam đã có các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo. Sách Khâm định Vỉệt sử thông giám cương mục chép rằng: Năm Nguyên Hòa đời vua Lê Trang Tôn (1533- Tây lịch) có một thương nhân là I-ni-khu đi đường biển lén vào giảng đạo Giatô ở Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Trấn và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Kitô giáo lấy năm 1533 là thời mốc đánh dấu việc truyền đạo Ki-tô vào Việt Nam.
Tiếp theo đó, năm 1550, linh mục Gaspar da Santa Cruz đến giảng đạo tại Hà Tiên; năm 1558, các linh mục khác như Luis de Fonseca, Gregoire de La Motte truyền giáo ở miền Trung; năm 1583, các linh mục Diego Doropesa, Pedro Ortiz đến truyền giáo ở vùng ven biển Quảng Ninh,…Thời kỳ từ năm 1533 đến năm 1614 chủ yếu là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và các dòng Đa Minh 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào nước ta, nhưng do không quen thông thổ, chưa thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo không mấy kết quả. Từ năm 1615 đến năm 1665 các giáo sĩ thuộc dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma Cao (Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt động ở cả Đàng Trong (Nam sông Gianh), Đàng Ngoài (Bắc sông Gianh). Ở Đàng Trong có các linh mục F. Buzomi, Diego Carvalho, F.de Pina và đặc biệt là Alexandre de Rhodes (quen gọi là cha Đắc Lộ).
Ở Đàng Ngoài có linh mục Pedro Marque, Gaspar d Amaral, Antonio Barbosa,…Những giáo sỹ dòng Tên tỏ ra thông thạo tiếng Việt Nam, lại hoạt động khôn khéo nên mặc dù gặp khó khăn phức tạp, có khi phải đổ máu nhưng họ đã thu hút được khá nhiều người theo đạo. Đặc biệt với việc Alexandre de Rhodes dùng ký tự La-tinh đặt hệ viết chữ mới (sau này gọi là chữ Quốc ngữ) đã hỗ trợ rất quan trọng cho việc truyền đạo. Theo tài liệu của Giáo hội, sau 37 năm truyền giáo ở Đàng Ngoài từ 25 linh mục, 5 trợ sĩ và 50 năm truyền giáo ở Đàng Trong từ 39 linh mục, 1 trợ sỹ, các giáo sỹ dòng Tên đã phát triển được khoảng 100 ngàn tín đồ (20.000 ở Đàng Trong và 80.