Lời mở đầu) [33], nhưng vẫn cho phép các nước áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu trong một số trường hợp nhất định, nhằm bảo vệ sự cân bằng của cán cân thương mại (Điều 12) hoặc duy trì các hình thức hỗ trợ để phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu phát triển, nâng cao mức sống của người dân (Điều 18). Tuyên bố Marrakesh ngày 15/4/1994 thể hiện quyết tâm của 124 Chính phủ tham gia Vòng đàm phán Urugoay về Đàm phán Thương mại Đa biên trong việc thúc đẩy hơn nữa thương mại quốc tế; hoan nghênh việc cắt giảm 40% thuế quan trên phạm vi toàn cầu và các thỏa thuận mở cửa thị trường hàng hóa rộng hơn cho các đối tác thương mại. Cũng trong ngày 15/4/1994, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới được ký kết tại Marrkesh quy định cụ thể chức năng, cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động và các quy định khác của WTO. Một trong những chức năng hoạt động chính của WTO là tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế.
Hoạt động tạo thuận lợi cho thương mại thể hiện 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dưới nhiều hình thức, một trong các hình thức này là các quốc gia thành viên cam kết cắt giảm thuế quan để mở cửa thị trường. Tuy nhiên, mở cửa thị trường không đồng nghĩa với việc thả nổi thị trường nội địa cho hàng hóa nước ngoài tự do xâm nhập. Song song với việc thực hiện cắt giảm thuế quan theo các cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương, các nước nhập khẩu cần thiết lập các biện pháp hợp lý để tiếp tục bảo vệ thị trường trong nước, thông qua đó bảo vệ ngành sản xuất, hoặc ít nhất là bảo vệ người tiêu dùng. Các biện pháp này được biết đến như là biện pháp phi thuế quan (NTM), hoặc hàng rào phi thuế quan (NTB).
Trong nhiều trường hợp, NTB hay NTM được sử dụng với cùng một nghĩa và cùng một mục đích. Tuy nhiên, hai thuật ngữ trên không phải là một, tùy theo các cách hiểu khác nhau. Nếu WTO cho rằng các NTM như hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu, các quy định về vệ sinh… cũng đồng thời được hiểu là NTB; thì Tổ chức quốc tế về hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) lại cho rằng NTM là các biện pháp mang tính chính sách, tác động tới việc hạn chế thương mại, mà không phân biệt tính hợp pháp của các biện pháp này, còn NTB được xem là những công cụ cản trở thương mại và những công cụ này vi phạm quy định của WTO. Tuy nhiên, OECD cũng thừa nhận rằng trong nhiều trường hợp NTM có thể chuyển hóa thành NTB.
Trong phạm vi luận văn này, NTM được đề cập tới như một hoặc một số biện pháp cụ thể (như cấp phép nhập khẩu, biện pháp kiểm dịch…), còn NTB được đề cập tới như là tập hợp các NTM có tính chất gây cản trở thương mại, hoặc NTM và NTB có thể sử dụng thay thế nhau với cùng một ý nghĩa. Các hàng rào và biện pháp phi thuế quan được đề cập ở đây là các biện pháp chung, áp dụng đối với tất cả các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp… Về mặt lịch sử, một số biện pháp phi thuế quan đã xuất hiện trước Chiến tranh thế giới thứ nhất [60, tr. 4] và hầu như chỉ áp dụng đối với các sản phẩm nông nghiệp. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước trở đi đã xuất hiện thêm một số biện pháp bảo hộ mới như hạn ngạch, cấp phép, và một số biện pháp mang tính chất bảo vệ như quy định về sức khỏe, an toàn và vệ sinh.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các biện pháp bảo hộ đã có bước phát triển đáng kể do các vòng đàm phán Hiệp định GATT đã quá tập trung vào việc đàm phán cắt giảm hàng rào thuế quan mà gần như bỏ ngỏ hàng rào phi thuế quan. Cho tới Vòng đàm phán Kenedy từ 1964-1967, sự quan tâm tới hàng rào thương mại phi thuế quan đã trở lại vì các biện pháp phi thuế quan này rất phát triển trong thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Cũng từ đây, người ta đã nhận ra rằng các biện pháp phi thuế quan thậm chí có ảnh hưởng tiêu cực tới thương mại lớn hơn cả các biện pháp thuế quan. Tới Vòng đàm phán Urugoay, NTB đã thu hút sự chú ý trong lần đàm phán thứ nhất trong những năm từ 1986-1994.
Trong suốt quá trình đàm phán, các NTB mang tính chất định lượng, hạn chế số lượng đã được chuyển hóa thành các biện pháp thuế quan. Còn các NTB không mang tính định lượng khác được đưa vào nhóm "các rào cản kỹ thuật". Cho tới nay, NTB vẫn là một vấn đề được quan tâm nhiều tại Vòng đàm phán Doha của WTO những năm gần đây, với các nội dung liên quan tới các biện pháp đầu tư, chính sách cạnh tranh, mua sắm chính phủ, vấn đề tạo thuận lợi cho thương mại. NTB trải qua một thời kỳ phát triển nhanh chóng khác sau khi Hiệp định Marrakesh năm 1994 về thành lập WTO ra đời.
Sự phát triển rộng rãi của các hàng rào này đã tác động tiêu cực tới tự do thương mại, đối lập với các nỗ lực cắt giảm thuế quan của các thành viên WTO. Một trong những lý do tồn tại và phát triển của NTB là một khi đã xuất hiện, một biện pháp này sẽ tồn tại rất lâu mà việc loại bỏ nó rất khó khăn và gây tốn kém về thời gian và tiền bạc. Hoặc, khi đã loại bỏ biện pháp này thì biện pháp khác sẽ xuất hiện. NTB, cũng như bất kỳ một chính sách bảo hộ nào khác đều có những mặt tích cực và tiêu cực của mình.
Nhìn chung, Chính phủ và thương mại nước sở tại sẽ hưởng lợi nếu NTB được sinh ra với ý nghĩa như những tấm lá chắn bảo hộ ngành sản xuất trong nước, hoặc bảo vệ sức khỏe người dân hay bảo vệ môi trường. Ngược lại, Chính phủ nước ngoài và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải chịu nhiều chi phí vô hình phát sinh khi đối mặt với các biện pháp phi thuế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mặt khác, nếu hàng hóa không được nhập khẩu hoặc nhập khẩu hạn chế, người tiêu dùng trong nước sẽ mất đi cơ hội mua hàng nước ngoài với giá cả phù hợp và chất lượng tốt, vì cạnh tranh lành mạnh trong thương mại chính là tiền để của sự phát triển, bên cạnh đó Chính phủ nước nhập khẩu mất đi cơ hội thu thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Đối với hàng hóa của các nước đang phát triển, xu hướng thiết lập hàng rào phi thuế sau khi thành lập WTO đã tăng lên đáng kể [47, tr.
Như là thuế chống bán phá giá chẳng hạn, loại thuế này đại diện cho một công cụ mang tính bù đắp khi các nước nhập khẩu đặt ra một khoản thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu được bán tại thị trường họ với mức giá thấp hơn mức giá nội địa của hàng hóa nhập khẩu tại nước xuất xứ. Những vụ việc tương tự thế này thời gian qua xảy ra rất nhiều và chính Việt Nam là một trong những nạn nhân trong các vụ về tôm, cá da trơn hoặc hàng giày mũ da. Bắt đầu từ những năm 1980 của thập kỷ trước, Hội nghị về Kinh tế và Phát triển của Liên Hợp quốc (UNCTAD) đã tiên phong nghiên cứu về NTB ngay sau vòng đàm phán Tokyo, ban đầu chủ yếu nghiên cứu các NTM như thủ tục cấp phép nhập khẩu, các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại và biện pháp chống bán phá giá. Cho tới nay, NTB được coi là những quan ngại đối với việc tiếp cận thị trường ở giai đoạn đầu.
Trong những năm gần đây, cùng với những nỗ lực cắt giảm thuế quan của tám vòng đàm phán thương mại đa biên trong khuôn khổ GATT, việc sử dụng và tầm quan trọng của NTB thể hiện ở cả vai trò bảo hộ và vai trò là công cụ thương mại mang tính pháp lý đã tăng lên đáng kể. Có thể nêu ra các nguyên nhân sau: Thứ nhất, một số NTB là đối tượng điều chỉnh tại các Hiệp định thương mại đa biên của WTO, như giấy phép nhập khẩu, hàng rào kỹ thuật trong thương mại - TBT, các biện pháp kiểm dịch và vệ sinh - SPS hoặc biện pháp chống bán phá giá. Các NTB này được đánh giá cao trong việc phục vụ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu quả các mục tiêu quan trọng của Chính phủ nước nhập khẩu, như là bảo vệ sức khỏe người dân, vật nuôi và cây trồng. Trong thực tiễn, các NTB đã bị lạm dụng khi những biện pháp này được sử dụng để ngụy trang cho các mục đích bảo hộ, do đó làm cản trở việc tiếp cận thị trường, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển; Thứ hai, các NTB được coi là khá phức tạp và có dáng dấp của một công cụ chính sách và kỹ thuật mà các nước đang phát triển khó phát hiện ra chúng đã bị sử dụng như thế nào, cũng như các mục đích của các biện pháp này.
Các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển là các đối tượng chịu nhiều tác động nhất từ NTB. Năm 2002, UNCTAD/WTO đã dự đoán rằng khoảng 40% hàng hóa xuất khẩu của các nước chậm phát triển là đối tượng của các NTB. Đối với các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi và các nước phát triển thì con số này chỉ là 15%. NTB với vấn đề tự do hóa thương mại và tiếp cận thị trường: Vòng đàm phán Urugoay đạt được nhiều kết quả về tự do thương mại.
Nhìn chung, thuế quan đã giảm tới ít nhất 1/3. Đặc biệt là các nước phát triển phải giảm khoảng 38% thuế quan và tăng cường việc miễn thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm công nghiệp của nước đang phát triển từ 20-40%. Vòng đàm phán Urugoay cũng thừa nhận việc chuyển đổi các biện pháp phi thuế quan thành các biện pháp thuế quan tương ứng nhưng cho rằng việc chuyển đổi này không bao giờ chính xác bởi sự khác nhau về phương pháp chuyển đổi được áp dụng và sự khác nhau quá lớn giữa việc chuyển đổi thuế quan mang tính bảo hộ và một bên là sự đánh thuế không lành mạnh.Ví dụ, ngành xuất khẩu của Ấn Độ đã bị thiệt hại nặng nề vì một số rào cản định lượng khi xuất khẩu sang Mỹ, như ngành may mặc và len. Nước này đã phải kiện Mỹ ra WTO vì Mỹ không có lý do rõ ràng đối với cho việc áp dụng các rào cản này đối với hàng xuất khẩu của Ấn Độ.