Chương 1: Yếu tổ trữ tỉnh trong sự phát triển của thể loại truyện ngắn Việt 'Namhiện đại “Chương 2: Yếu tổ trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỷ Mai, Qu Hương nhìn từ thể giới hình tượng, “Chương 3, Yêu tổ trữ tỉnh trong truyện ngắn Trần Thuỷ Mai, Qu Hương nhìn tự phương diện trần thuật NỘI DỤNG. CHUONG 1 YEU TO TRO TINH TRONG SY PHAT TRIEN CUA THE LOẠI ‘TRUYEN NGAN VIỆT NAM HIỆN Ð, 1-1. Tổng quan vỀ yếu tổ trữ tình trong truyện ngắn ữ từ." là một thuật ngữ í luận văn học, dũng như một kh niệm để nói đến một th chất văn học. Qua khảo si, ching ti ghi nhân được một số quan niệm về khái niệm trữ tình như sau Theo Từ diém thuật ngữ văn học: “7rữ từnh (tổng Pháp: jrieqwe) là một trong ba phương thức tê hiện đi sống (bên cạnh tự sự và lịch) làm cơ sở cho một loai tác phẩm văn học.
Trữ tình phản ánh đời sắng bằng cách bộc lộ trực tin ý thức con người, ngha là con người tự cầm thấy mình qua những Ấn tượng, ý ngh, câm xúc chỉ quan của mình đồi với thể giới và nhân sinh. Nguyên tắc chữ quan là “guyên tắc cơ bản trong việc chiỗn link hiện thực, là nhân tổ cơ bản quy định những đặc điển cốt yẵu của tác phẩm trữ tì. Tác phẩm tữ tình thé hign tâm trang. Do đố, nó thường không có “cốt truyện” hiu theo nghĩa chất chế cửa từ nảy và đăng lượng của nó thường ngắn (ì một trạng thái tân trang không th éo đài)” [16, tr374].
“Trong Giáo trình Lí luận văn học, khái niệm rỡ tỉnh được hiễu là sự “nướu tả và biểu hiện thé giới chủ quan của con người với những cảm xúc, tâm trang vay "gĩtrực tép” [SS, tr 189). “Trữ tỉnh côn được biểu là “ciất sho” chất thơ hay chất trữ tỉnh ~ tính chất được tạo nên từ sự cô đọng của tâm hỏn, sự hỏa quyện giữa vẻ đẹp của cảm xúc, tâm trang, nh cảm với vẻ đẹp của cách biểu hiện nó để có thể khơi gợi những rung động thẩm mĩ và tỉnh cảm nhân văn. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy có nhận định như sau: “Chất thơ trước tiên hiểu theo nghĩa rộng phải gắn với cái đẹp. Cái đẹp có tế là do tự nhiên mang lại như cảnh mậy trắng nhỏn nhơ bay trên bằu trời xanh: thầm, tạo ra câm giác dễ chịu cho người ngắm nh.
“chất thơ" cũng có thể 9 4o ra từ những tình cảm, hành động của con người như: Sự nhớ nhưng, sự uyén chuyển của các điệu múa. Như vậy, cô thể thấy dù được gọi tên khác nhau nhưng yếu tổ trữ tình vẫn thống nhất ở nguồn gốc: xuất phát từ tâm hỗn, biểu hiện .qua cảm xúc và tâm trang chủ thể. Tu chung Iai, Khai im tinh due hi là phương thức t hiện của n học, đồ là phương thức thiên về đi tả, bộc lỗ cảm xúc. Nguyễn nghĩa từ Hán Ví t “ámữ tinh” cũng có ý nghĩa như vậy: “rữ"là thlộ, “iưi” là tình cảm, cảm xúc “Trữ tỉnh là một khái niệm dùng để chỉ một phương thie tong sing tic vin học, trong đô chú trọng đến miều tả cảm xúc, tâm trang, ỉnh cảm chủ quan của chủ thể trữ tỉnh.
Chúng tôi sử dụng cách hiểu này để nghiên cứu về yếu tổ trữ tỉnh tong truyện ngắn ở những phần tiếp theo của luận văn. Tuy nhiên, ếu tổ trừ tỉnh không những chỉ xuất hiện trong các tác phẩm trữ tình mà còn thể hiện trong các tác phẩm. tự sự hay kịch. Do vậy, đổi khí người ta đùng cách nói như “chất ere tinh”, “tinh trữ tình” hay “yếu tổ trữ tình ” đễ diễn tả đặc điểm này trong các tác phẩm tự sự.
Yếu tổ trữ tình trong truyện ngắn “Truyện ngắn là tác phẩm tư sự cỡ nhỏ. Nhà văn thường sử dụng nhân vật, sự kiên, biển cố. để bộc lô tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống con người. Khác với ti thuyết là th loại chiếm lĩnh đời sắng trong toàn bộ sự đầy đạn và toàn vẹn của nó, tryyện ngắn chỉ hướng tới v khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất oi quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người.
Vì thể, trong truyện ngắn thường có í nhân vật, íL sự kiện, biển cố. Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thể giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy. Yế tổ quan trong bậc nhất rong truyền ngắn là những củ tết có dưng lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều său chưa nối hết Trong truyện ngắn, yế tổ tự sự à chủ đạo và xuyên suốt. Tuy nhiền, do bị phụ thuộc vào nội dung được trần thuật, phụ thuộc vào thể tạng của nhà văn mà trong một số sing tác, ếu tổ tự sự bị giảm nhọ.
Trong khi đó, các yếu tổ trữ tình, "nghị luận sẽ tăng, tạra sự giao thoa th loi trong truyện ngn. Nội về vị chit tho trong v Ubi,K. Paustovsky vide in xubt la sot eb, côn tơ à sợi ngang. Cuộc sẵng được miêu tả trong văn xuối không chứa đưng chất 10 thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cảnh, Không thúc gọi, không dẫn dt ta đi đầu cả” [S4; tr17].
Có thể thá quan niệm của Pausovsky đã chỉ rõ vai trở cũng như vị trí của thơ rong văn xuôi ai Nguyên An khi bản luận về chất thơ của văn xuôi cố khái quát về yếu tổ trữ tình nối chung và yế t trữ inh trong văn xuôi như sau Trữ tình thường gắn với những xung động tâm lí căng và ngẫn. Ngô từ ở trữ tình có im tế biểu cảm hơn là mổ ả (ạo hình), bộc bạch thé giới bên trong của chủ thể phảt ngôn hơn là vẽ ra thế giới bên ngoài chỉ thể dy: Tắt nhiên, vái cách là mội tổ chất thẫm mĩ không nhi tết phải đi lêm, với ngôn ngữ có vẫn điệu nghiêm ng, trữ tình chẳng những có thế được thể hiện bằng thơ mà còn có khả năng thể hiện ở văn xới. Văn xuối trữ tình không phải bao giờ cũng là dạng "ti tình” tuân túy, nhưng chính vi 1p, ly ai là chỗ lộ rõ dấu vắt ơ đối với vấn xuổi [2] `Yếu tổ trữ tỉnh trong truyện ngắn có thể bộc lộ ở phương diện thức thể hiện. Đó là tính nhạc, sự hâm súc của ngôn , đô là sự lỉnh hoạt của các thủ pháp nghệ thuật tạo cho giọng văn, lời văn sức tuyển cảm lớn, Yêu tổ trữ tỉnh trong truyện ngắn cũng có thể thể hiện ở mạch kết cấu, ở những rung động tính tẾ trong tâm hỗn nhân vật, ở bức tranh thiên nhiên thơ mộng trữ tỉnh, (C6 thé thấy, yếu tổ tr tỉnh rong truyện ngắn được tạo nên khi nhà văn chú ý khai thác và biểu hiện một cách tỉnh tế mạch cảm xúc, âm trạng, tình cảm của nhân Yật hoặc của chính mình trước thể giới bằng những chỉ it, hình ảnh đầy gợi cảm và "một lỗi văn rong sng, tuyển cảm, phủ hợp với nhịp diệu iêng của cảm xúc, tâm hn, Mot truyện ngắn (hoặc tác phẩm văn xuôï) được coi là truyện ngắn trtỉnh khi mối bận âm của người viết không đạt vào kể lại một biến cổ, sự việc, hnh động "mà là việc làm bật lên một trang thái của đồi sống hoặc của tâm hẳn con người.
(Qua timg thoi kỉ, yếu tổ tỉnh thâm nhập vào truyện ngắn với sự đâm nhạt khác nhau. Sự tham gia của yếu tổ trữ tỉnh vào cấu trúc của truyện ngắn khi thì được thể hiện qua cá tôi cảm xúc, cảm ngĩ, một cá tôi đẫy suy tư của chủ thể trữ h; khi lại được thể hiện qua âm hướng hào hùng, ngợi ca; khi lại là đi sầu khám phá số phận con người trong cuộc sống đời thường. " Sự tương tác, giao thoa, thâm nhập của các yếu tổ thuộc loại hình tữ tình vào loại ình tự sự đã tạo nến dầu Ấn thẳm mĩ đậm nét 1. Yếu tế trữ tình trong truyện ngắn một số giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại 1.
Yến tổ trữ nh trong việc thể tỉnh cảm, nhân trong giai dogn 1930-1945 "Nếu như dòng truyện ngắn hiện thực đi sâu vào những vn đề xã hội nhúc nhối thì đồng truyện ngẫn trữ tỉnh lại cảm nhận và tái hiện cuộc sắngtừ cái Tôi trữ nh cá nhân. Các nhà văn trữ tình miều tả cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của mình, lăng kính ấy chính là thể giới nội tâm, là cảm xức, tâm trang của nhà văn trước diễn biến của xã hội. Đây chính là phương thie sing te eho moi nha vin di theo dòng truyện ngắn uữ tình tước 1945, đủ ở mỗi nhà văn, cái tối biểu hiện khác nhau “Truyện ngắn trữ tình giai đoạn nảy dù tả cảnh, tả ngoại hình hay nội tâm nhân. yếu tổ chủ quan của tác giá bao giờ cũng đậm nét.
Sự giao hòa giữa ha loi hình tự sự và rữ tình mang đến cho người đọc mộtth loại văn học mà ở đồ cá tôi tâm tạng thắm dim xuyên suốt chiều dài của các sáng tác. Nếu như thơ trữ tỉnh biểu hiện cái ôi qua từng vẫn thơ, âm „ thì truyện ngắn trữ tỉnh biểu hiện cá tôi «qua ding tim trang của nhân vật. Truyền ngắn trừ tỉnh thường có cốt truyện bí giảm hệ: ác phẩm có cấu tứ gần như thơ tr tình. Từ năm 1936 đến năm 1942, phong cách truyện ngắn trữ mới thực sự được định hình với cây bút truyện ngắn đặc sắc ~ Thạch Lam, Ba tập truyện n của Thạch Lam đã thực sự khởi động cho khuynh hướng truyện ngắn nảy trên văn.
dân, Nhiễu nhà văn đã thử nghiệm và tiếp nổi Thạch Lam làm nên một đồng phong cách truyện ngắn trữ tỉnh đạc sắc: Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dznh, Đỗ Tổn, “Chính việc coi trọng cá thể và đỀ cao sự thể hiện c tối cá nhân đã tạo nên xu "hướng thâm mĩ này. Chúng tôi muốn điểm qua vài tác giả nhằm thầy rõ hơn ci tối cf thé rong các truyện ngắn tữ tỉnh giai đoạn này Trước iênlà Thạch Lam ~ người được coi là đã đặt nên móng cho dòng truyện ngắn mang phong cách trữ nh trong văn xuôi giải đoạn 1930 — 1945, Phần lớn truyện của Thạch Lam thuộc loại truyện không có cốt truyện. Mỗi truyện là một tâm trang, 2 một bài thơ trữ tình. Trong truyện ngắn rữ tình Thạch Lam, các nhân vật không tổn tại với tư cách là đại điện cho những 18 tà lop, hay địa vị xã hội nhất định, mat tn tại với tự cách à những cá nh của cá nhân, cá thể, Với tư cách là những cá nhân, nhân vật của Thạch Lam là một ôi tỉnh thần.
Cái tôi của Thạch Lam thường khiêm.