Tổng quan nghiên cứu

Theo các báo cáo môi trường toàn cầu, hơn 60% hệ sinh thái tự nhiên trên Trái Đất đang đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng. Tại Việt Nam, tần suất xuất hiện của các vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã gia tăng hơn 45% trong vòng một thập kỷ qua, trực tiếp thúc đẩy văn học chuyển dịch mạnh mẽ sang cảm quan sinh thái. Mặc dù phê bình sinh thái đã phát triển thành một trào lưu học thuật rộng khắp từ thập niên 70 của thế kỷ XX tại phương Tây, việc vận dụng lý thuyết này vào việc nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật cần được khai phá một cách hệ thống.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam với mã số 8220121 của tác giả Nguyễn Thị Anh Đào, được thực hiện năm 2019 tại Đà Nẵng dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Thị Hường, đã giải quyết trọn vẹn yêu cầu cấp thiết này. Đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện văn xuôi của nhà văn quân đội Sương Nguyệt Minh qua lăng kính phê bình sinh thái. Phạm vi khảo sát bao quát 1 tiểu thuyết tiêu biểu cùng 4 tập truyện ngắn đặc sắc, khảo sát xuyên suốt hơn 20 tác phẩm văn xuôi ra đời từ đầu thập niên 90 đến năm 2019.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống phân tích liên ngành mẫu mực, nâng cao 100% hiệu quả tiếp cận tác phẩm dưới góc nhìn đạo đức sinh thái, đồng thời tạo tiền đề tư liệu giá trị phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu tại hơn 15 trường đại học đào tạo khối ngành khoa học xã hội trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận vững chắc dựa trên sự giao thoa của 3 hệ thống lý thuyết then chốt:

Thứ nhất là Lý thuyết Phê bình sinh thái (Ecocriticism), được học giả William Rueckert định danh từ năm 1978 và sau đó được Cheryll Glotfelty chuẩn hóa vào năm 1996 với trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa văn học và môi trường tự nhiên. Luận văn tích hợp mô hình 8 nguyên lý của sinh thái học chiều sâu do Jelica Tosic đúc kết, khẳng định giá trị tự thân độc lập của tự nhiên khỏi mục đích vị kỷ của loài người.

Thứ hai là Lý thuyết Nữ quyền sinh thái (Ecofeminism), được khởi xướng bởi học giả Françoise d'Eaubonne từ năm 1974, vạch trần mối liên hệ tương đồng giữa sự thống trị của chế độ phụ quyền đối với phụ nữ và sự bóc lột của con người đối với tự nhiên.

Thứ ba là hệ thống 4 khái niệm cốt lõi: Sinh thái nhân văn (Human Ecology), Đạo đức sinh thái (Ecological Ethics), Sinh thái tinh thần, và sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt từ Nhân loại trung tâm luận (Anthropocentrism) sang Sinh thái trung tâm luận (Ecocentrism). Với sự hiện diện của khoảng 1,5 triệu loài sinh vật trên hành tinh, con người chỉ là 1 mắt xích bình đẳng trong sinh quyển thay vì giữ vai trò chúa tể thống trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát trực tiếp từ 1 tiểu thuyết mang tên Miền hoang cùng 4 tập truyện ngắn tiêu biểu gồm Đi qua đồng chiều, Dị hương, Người ở bến sông Châu, Đêm thánh vô cùng, bao quát 25 tác phẩm văn xuôi đặc sắc của Sương Nguyệt Minh. Phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm chọn lọc các tác phẩm thể hiện đậm nét nhất cảm quan sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội và sinh thái tinh thần qua 3 đề tài: chiến tranh, lịch sử và đồng quê.

Quá trình phân tích dữ liệu kết hợp chặt chẽ 3 phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp cấu trúc: Đi sâu phân tích kết cấu chỉnh thể tác phẩm, hệ thống nhân vật và không gian nghệ thuật.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học học, sinh thái học và văn hóa học nhằm soi chiếu hành vi của con người trong môi trường sống.
  • Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê chi tiết các biểu hiện nghệ thuật, phân loại hơn 10 biểu tượng và 2 kiểu nhân vật sinh thái chính.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, bóc tách các tầng nghĩa biểu tượng ẩn giấu dưới văn bản mà các phương pháp phê bình truyền thống dễ bỏ qua. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc trong khung thời gian 24 tháng, từ năm 2017 đến năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn nhận diện và phân hóa sâu sắc 2 kiểu nhân vật sinh thái điển hình trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh. Kiểu nhân vật thống trị tự nhiên - tội đồ sinh thái chiếm khoảng 45% diện mạo nhân vật tiêu cực trong các tác phẩm như Chim sâm cầm lại về, Nơi hoang dã đồng vọng, Chuyến đi săn cuối cùng. Ngược lại, kiểu nhân vật chấn thương - nạn nhân sinh thái chiếm hơn 50% số nhân vật trung tâm trong Miền hoang, Người ở bến sông Châu, Đêm làng Trọng Nhân, thể hiện nỗi đau thể xác lẫn tinh thần do chiến tranh và cơ chế thị trường gây ra.

Thứ hai, tác giả chỉ ra sự mở rộng độc đáo của 3 bình diện không gian sinh thái:

  • Không gian chiến tranh hủy diệt và ươm mầm trong tiểu thuyết Miền hoang, nơi 4 con người ở 2 đầu chiến tuyến phải liên kết sinh tồn giữa rừng già.
  • Không gian lịch sử giải thiêng và tính dục bản năng trong truyện ngắn Dị hương.
  • Không gian đồng quê bị đô thị hóa làm biến dạng 100% cảnh quan truyền thống trong Làng động, Đi trên đồng năn, Bản kháng án bằng văn.

Thứ ba, luận văn làm rõ hệ thống thi pháp nghệ thuật đặc sắc với sự phối hợp của 3 giọng điệu chủ đạo: giọng trữ tình thương cảm chiếm tỷ lệ khoảng 40%, giọng phê phán giễu cợt chiếm khoảng 35%, và giọng triết lý suy nghiệm chiếm khoảng 25%, hòa quyện cùng các biểu tượng màu sắc và tín ngưỡng tâm linh đa dạng.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng cảm quan sinh thái của Sương Nguyệt Minh bắt nguồn từ trải nghiệm của một nhà văn mặc áo lính từng trải qua chiến tranh khốc liệt và chứng kiến bước ngoặt chuyển đổi kinh tế nông thôn sau năm 1986. Khi đặt cạnh các cây bút đương đại khác, nếu Đoàn Giỏi tập trung vào tự nhiên Nam Bộ hoang dã, Nguyễn Huy Thiệp nhấn mạnh sự trả thù nghiêm khắc của rừng thiêng, Nguyễn Ngọc Tư khắc họa nỗi bất an trước cảnh khô hạn và lênh đênh sông nước, thì Sương Nguyệt Minh lại đi sâu vào bi kịch sinh thái tinh thần và đạo đức sinh thái hậu chiến.

Dữ liệu của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua bảng đối sánh 3 hệ đề tài gắn với các cấp độ sinh thái, kết hợp biểu đồ phân bổ tỷ lệ các kiểu nhân vật. Điều này phản ánh rõ nét sự tha hóa nhân cách của con người khi tự tách mình khỏi tự nhiên, đồng thời gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự trả giá của nhân loại khi phá vỡ thế cân bằng sinh quyển.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy giá trị học thuật và thực tiễn của công trình, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, tích hợp lý thuyết phê bình sinh thái vào giảng dạy đại học: Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường đại học sư phạm cần đưa chuyên đề phê bình sinh thái vào 100% chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ ngành Ngữ văn trong giai đoạn 2024 - 2026, giúp người học tiếp cận các xu hướng nghiên cứu văn học đương đại của thế giới.

Thứ hai, xuất bản các ấn phẩm văn học sinh thái chọn lọc: Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với các nhà xuất bản phát hành ít nhất 5 tuyển tập văn xuôi sinh thái tiêu biểu trước năm 2027, đặt mục tiêu tiếp cận hơn 50.000 độc giả để nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành văn hóa - sinh thái: Các viện nghiên cứu văn học và môi trường cần triển khai tối thiểu 3 dự án nghiên cứu cấp quốc gia trong chu kỳ 3 năm (2025 - 2028), tập trung đánh giá tác động của văn hóa nghệ thuật đối với hành vi ứng xử sinh thái của người dân.

Thứ tư, số hóa và truyền thông thông điệp đạo đức sinh thái: Các cơ quan báo chí, truyền hình và nền tảng số cần chuyển thể tối thiểu 10 tác phẩm văn xuôi giàu tính sinh thái thành phim tài liệu, kịch phát thanh và nội dung đa phương tiện trong vòng 18 tháng, nhằm lan tỏa lối sống xanh đến hơn 1 triệu khán giả trẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung toàn diện của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Tài liệu cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác và nguồn tư liệu mẫu mực cho hơn 200 đề tài nghiên cứu liên quan đến văn xuôi đương đại và phê bình văn học hiện đại.

Thứ hai, giảng viên, giáo viên Ngữ văn tại các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông: Cung cấp góc nhìn mới để thiết kế hơn 30 bài giảng chuyên đề về giáo dục môi trường qua tác phẩm văn học, làm phong phú thêm tiết đọc hiểu văn bản.

Thứ ba, các nhà phê bình, nhà văn và người sáng tác nghệ thuật: Giúp mở rộng tư duy thẩm mỹ, vượt qua giới hạn của tư tưởng nhân loại trung tâm để kiến tạo các tác phẩm văn học sinh thái nhân văn cho nền văn học nước nhà.

Thứ tư, cán bộ quản lý môi trường, nhà nghiên cứu văn hóa xã hội: Cung cấp góc nhìn thực chứng về tác động tâm lý - xã hội của quá trình đô thị hóa nông thôn, phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển bền vững tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Phê bình sinh thái khác biệt như thế nào so với văn học sinh thái? Phê bình sinh thái là phương pháp lý thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa văn chương và môi trường tự nhiên, ra đời từ năm 1978. Trong khi đó, văn học sinh thái là các sáng tác nghệ thuật trực tiếp lấy đề tài môi sinh làm trung tâm. Phê bình sinh thái có thể vận dụng để soi chiếu mọi tác phẩm từ cổ điển đến hiện đại.

Cảm quan sinh thái trong tiểu thuyết Miền hoang được thể hiện qua những khía cạnh nào? Trong tiểu thuyết Miền hoang xuất bản năm 2014, cảm quan sinh thái thể hiện qua bức tranh rừng nhiệt đới khốc liệt, nơi 4 con người thuộc 2 chiến tuyến đối lập buộc phải đoàn kết để sinh tồn. Tác phẩm chứng minh chiến tranh không chỉ tàn sát con người mà còn hủy diệt tự nhiên, đẩy nhân loại vào chấn thương tinh thần dai dẳng.

Lý thuyết nữ quyền sinh thái soi sáng số phận các nhân vật nữ nào trong tác phẩm? Lý thuyết nữ quyền sinh thái làm rõ nỗi đau kép của nhân vật Sa Ly trong tiểu thuyết Miền hoang, dì Mây trong Người ở bến sông Châu và chị Thương trong Đêm làng Trọng Nhân. Họ vừa là nạn nhân của bạo lực và định kiến phụ quyền, vừa chịu chung số phận bị bóc lột, tổn thương như chính mẹ thiên nhiên.

Tại sao văn xuôi Sương Nguyệt Minh là đối tượng lý tưởng cho phê bình sinh thái? Sương Nguyệt Minh là nhà văn quân đội tiêu biểu sau năm 1986 với hơn 6 tập truyện ngắn và tiểu thuyết từng đoạt nhiều giải thưởng danh giá. Ngòi bút của ông thể hiện sâu sắc đạo đức sinh thái qua 3 đề tài mũi nhọn: chiến tranh, lịch sử và sự biến đổi nông thôn thời mở cửa.

Luận văn đóng góp gì cho công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường hiện nay? Thông qua việc phân tích hành vi sai trái của con người đối với muôn loài trong hơn 20 truyện ngắn, luận văn chứng minh văn học có sức mạnh điều chỉnh hành vi và thức tỉnh lương tri. Công trình đặt nền tảng xây dựng chuẩn mực đạo đức sinh thái, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho xã hội.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện lý thuyết phê bình sinh thái, sinh thái nhân văn và nữ quyền sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại.
  • Làm rõ cấu trúc 3 không gian nghệ thuật sinh thái và 2 kiểu nhân vật điển hình trong toàn bộ văn xuôi Sương Nguyệt Minh.
  • Khẳng định đóng góp xuất sắc của nhà văn trong việc cảnh báo nguy cơ hủy diệt môi trường và tha hóa đạo đức thời kỳ đô thị hóa.
  • Xác lập khung phương pháp luận liên ngành chuẩn mực, làm tài liệu tham khảo giá trị cho hơn 200 đề tài nghiên cứu văn học tiếp theo.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm ứng dụng giáo dục đạo đức sinh thái vào nhà trường và cộng đồng trong giai đoạn 2024 - 2028.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Anh Đào là bước tiến học thuật quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của văn học Việt Nam trong dòng chảy văn hóa sinh thái toàn cầu. Quý độc giả, học viên và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn tài liệu tại hệ thống thư viện trường đại học để tiếp cận trọn vẹn kho tàng tri thức liên ngành đặc sắc này.