Mở đầu Cánh đồng bắt tận, nhà văn đã vẽ ra bức tranh khô cin, han han, thực trạng thiểu nước của con người “mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đồ xuống nơi này”. Nguyễn Ngọc Từ đã chạm vào những vấn đề cốt lỗi của sinh thái môi trường, đó là tình trạng thiếu nước phục vụ sinh hoạt, lao động của con người Đồng thời, truyện ngắn còn được nhìn nhận dưới ánh sáng của lí thuyết nữ quyền sinh. thái đổi với vấn đề tình yêu, tỉnh dục của nhân vật chính là Nương. Hành trình đi tìm lại tính nữ của Nương cũng chính là hành trình tìm lại sự sống.
Những tác phẩm trên ít nhiều đã đề cập đến vấn đề môi trường, mỗi quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đánh động đến nhận thức của con người về cách hành xử của mình đối với tự nhiên. ‘Mac di tic phẩm có chứa đựng tr tưởng sinh thái, nhưng chúng ta thấy văn học Việt Nam vẫn thiểu những tác phẩm văn học sinh thái dich thực, đả phá mạnh mẽ quan 1s niệm nhân loại trung tâm luận và thay thế bằng quan niệm thế giới trung tâm luận. Các nhà văn dần chú ý khai thác yếu tố môi trường, đặt ra nhiều câu hỏi và đề xuất trong việc khắc phục những vin dé môi sinh đang diễn ra hiện nay. “Trên con đường tiếp thu những lí thuyết nghiễn cứu văn học hiển đại, dù gặp không ít khó khăn, tranh luận, song với sự tỉnh tế, nhanh nhạy của giới phê bình học thuật, í thuyết phê bình sinh thái ngày càng thể hiện rõ những ưu thể vượt trội của mình.
Phân tích tác phẩm dưới ánh sáng của li thuyết phê bình sinh thái giúp lâm nổi bật giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm. Quan hệ hài hòa giữa tự nhiên và con người là chìa khóa mang lại cuộc sống thoái mái, an lạc, sung túc cho con người. Mắi quan hệ giữa sinh thái xuôi Sương Nguyệt Minh 1. Hành trình sắng tạo của Sương Nguyệt Minh Sương Nguyệt Minh thuộc thể hệ nhà văn mặc áo lính.
Trong số những phong cách đa dạng của văn học sau 1986, Sương Nguyệt Minh là nhà văn quân đội iêu biểu. Ong xuất hiện trên văn din vào khoảng những năm đầu thập niên 90 của thể kỷ XX. "Với lồng đam mê và lao động nghệ thuật nghiêm tú, nhà văn đã cho ra đời 6 tập truyện ngắn, tiểu thuyết, rất nhiều bi bút ký, tu bút. định hình một phong cách riêng vừa ôn định, vừa không ngừng đổi mới.
Sương Nguyệt Minh đã nhận rất nhiều giải thưởng như: giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ quân đội (1996), với tác phẩm Bản khang án bằng vấn. Giải thưởng truyện ngắn cuộc thì Cây bút vàng của Tạp chi Van hóa - văn nghệ công an (1998-2001) với tác phim Lia chdy trong rimg hoang. Giải thường cuộc th truyện ngắn của Nhà xuất bản Giáo dục (2004) với tác phẩm Những bước đi vào đổi. Giải thưởng cuộc thì truyện ngắn của nha xuất bản Thanh niền (2004) với tập truyện ngắn Di qua ding chiều.
Giải thưởng cuộc thì bút kí Bai tiếng nói Việt Nam 2002-2003 với tác phẩm Đêm Pa Co; giải thường cuộc thì truyện ngắn Báo Văn nghệ (2003-2004) với túc phẩm AMưởi bø bốn nước. Đặc biệt, nhà văn đạt hai lần giải thưởng sing tic vin học của Bộ quốc phòng về đề tải “Chiến tranh và người linh” với tập bút kí Trong cơn đại hồng thủy và tập truyện ngẫn Mười ba bắn nước. Năm 2010, Sương Nguyệt Minh được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện ngắn Di ương. "Những thành công bước đầu của nhà văn Sương Nguyệt Minh chủ yêu ở thể loại truyện ngắn.
Với đặc thủ là một th loại nhỏ, gọn truyện ngắn bất nhịp rất nhanh với những vẫn đề của đời sống. Truyện ngắn nhanh nhạy, len lõi vào mọi ngóc ngách của xã hội, phản chiếu mọi tâm điểm nóng bóng của hiện thực. Đọc truyện Sương "Nguyệt Minh người đọc bước vào một thể giới nghệ thuật phong phú, đa chiều với một phong cách văn chương giản dị, thuần hậu, vừa thể hiện được sự nhanh nhạy, số cia nha văn trẻ trong xã hội hiện đại. Nhà văn khai thác nông thôn từ lúc mang vẻ đẹp đôn hậu trong Di qua déng chiéu, Trương Hạ đến nông thôn thời kinh tế thị trường trong Lãng động, Bản kháng ăn bằng văn, từ những người nông dân thuần nông, hiển ảnh, chăm chỉ như Sao (Mười ba bến nước), Thương (Đém làng Trọng Nhân), Na (Đi 16 qua đồng chiều) đến những người nông dân bị biến chất do cơ chế thị trường như dì Hảo (Bản kháng án bằng văn), người phụ nữ buôn bán mật gấu (Sao băng).
Sương Nguyệt Minh còn mạnh đi vào địa hạt của đề tải chiến tranh với những mắt mát, hỉ sinh, với sự uy hiếp của kẻ thù và tự nhiên (Miễn hoang, Người ở bốn xông Châu) và đề tài lịch sử với tr duy mới mẻ khi luận bản về nhân vật lịch sử Nguyễn Ánh (Dị Jucong). Vi thể, truyện Sương Nguyệt Minh bên cạnh tính thời sự phản ánh hiện thực tự nhiên bị tàn phá, người phụ nữ chịu nhiều bắt hạnh còn là bài học về đạo đức, giáo duc thái đô, hành vi của con người. Quan tâm đến thiên nhiên, sinh thái, nhà văn tâm sự: *Tôi vẫn dừng xe bên đường, di bộ vào rừng, tự tay sở vào gốc trằm cổ thụ sẵn sùi, u cục, ngước mắt nhìn và ngắt một vài lá trâm xanh mát bằng cảm quan thường trực của nhà văn: Đã đi đâu là đi đến tận cùng, đã viết cái gì là viết hết, để người khác không còn để viết [52]. Với tiều thuyết Miễn hoang, Sương Nguyệt Minh khẳng định đặc điểm của một nhà văn luôn quan tâm đến đạo đức sinh thái.
Miễn hoang khai thác đẻ tài chiến tranh, mặt mạnh. của nhà văn mặc áo lính từng trải, đ nhiều, hiểu nhiều; qua đó thể hiện những đổi mới trong cách viết của nhà văn. Chiến tranh dưới ngòi bút của Sương Nguyệt Minh không hiện lên với những trận chiến đổ máu và là những ngày lang thang, sống vất vưởng trong cánh rừng Miên ghê rợn của bốn con người cô đơn nằm ở hai phe, hai chiến tuyển đối lập nhau. Họ đều chung số phận, đều chịu cảnh đói khát, sợ hãi, đều bị cái chết rình rập.
Con người phát động các cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cồi, làm giàu cho kẻ thắng trận, chính âm mưu thâm độc này của con người đã tần phá môi trường tự nhiên, cây cỏ chết tụi, động vat bi tin sát, thiên nhiên đều có sự thay đổi. Tắt cả gói son trong sự đỗ nát, hoang phế. Gieo nhân nào gặp quả đó, âm mưu thâm độc của con người sẽ bị trả giá trước sự nguy hiểm, dữ đội, khắc nghiệt của tự nhiên. Rừng Miên thâm u, bí hiểm, nhiều loài vật nguy hiểm nhe nanh múa vướt nuốt chứng con người.
Cam quan sinh thái được thể hiện rõ nét trên các trang viết của Sương Nguyệt Minh khi viết về đề tài nông thôn. Một đề tài tuy không mới song lại là một mảnh đắt để nhà văn bộc lộ cách nhìn mới mẻ, chân thực cũng như tiếp thu nhanh sự vận động năng động, nhanh nhạy của nông thôn Việt Nam trong thời đại mở cửa của nhà văn. Nông thôn trong sáng tác của nhà văn không giữ được vẻ đẹp mộc mạc, chân quê mà cdẫn chuyển hóa theo xu thé cơ giới hóa, thành thị hóa. Con người nông thôn cũng ngày cảng tha hóa, biển chất.
Họ sẵn sảng tàn phá quê hương miễn sao tiền dày túi. Cở sở hạ tầng dần dần được thiết lập. Những con đường đất thơm mùi rom ra, mùi của quê 'hương được thay thế dần bằng con đường bê tông cốt thép, âm âm mùi xi măng, những. mái nhà tranh than thiện với thiên nhiên và người dân quê dần được san lấp bằng những tòa nhà cao chọc trời, đèn điện sáng trưng khiến cho mặt trăng cũng không cần thiết nữa bởi ánh trăng không sáng bằng đèn điện (7uổi thơ con ở đâu?, Trương Hạ, “Hoàng hôn màu có biếc.
v “Cảm quan sinh thái còn được thể hiện qua cách nhìn của nhà văn với những vẫn để lịch sử, nhân vật lịch sử. Tác giả không nhìn nhân vật lịch sử dưới cái nhìn đầy tôn kính vốn có khi người dân Việt Nam nhắc đến hai từ lịch sử mà để nhân vật lịch sử thỏa sức sống trong cuộc sống đầy cái tôi khao khát tỉnh cảm (Dị hương). Bản năng là vấn đề được nhiều nhà văn đương đại khai thác, song vấn đề bản năng trong những, nhân vật lịch sử th chưa được nhà văn đụng chạm nhiều vì lịch sử là một phạm trù khá nhạy cảm. Sương Nguyệt mạnh dạn nói đến những phương diện không ai dám nói đây quả thật là sự can đảm rất đáng ca ngợi của nhà văn.
Có như thé, người đọc mới tiếp thu toàn diện, sâu sắc những hiện tượng, nhân vật lịch sử của dân tộc. Đặc biệt, trên con đường sng tác của mình, Sương Nguyệt Minh quan tâm đến đời sống con người trong hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc. Chiến tranh trong sáng tác của ông là sự hủy diệt (Miễr hoang). Nó hủy diệt sinh mạng con người.
Nhưng chính trong hoàn cảnh tận cùng của sự sống, con người mới nhận thức rõ vai trò to lớn của thiên nhiên đối với sự tồn vong của mình và đồng loại. Cũng trong hoàn cảnh đó,ý thức sinh tồn xóa tan sự ngăn cách vé mau da, quốc tịch, đẳng cấp. Qua đó, Sương Nguyệt Minh trân trọng bản năng sống của con người. Vừa chú ý đến sự tác động của tự nhiên đến cuộc sống con người vừa nhắn mạnh thái độ của những người với nhau khi đứng trước ngưỡng cửa của cái chết, bên bờ vực thắm, loài người nhận thức được không thể tồn tại nếu là những cá thể độc lập mà phải nắm tay nhau cùng vượt qua mỗi nguy nan này, hòa thuận thì sống, bắt đồng thì chết.
Căm quan sinh thải trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh ‘Cam quan sinh thái để lại dấu ấn đậm nết trên những trang văn của Sương. 'Nguyệt Minh trên mọi đễ tài từ đề tải chiến tranh, đề ti lịch sử đến đề tài nông thôn, mọi không gian - từ nông thôn đến thành thị, từ lúc xã hội thôn sơ, quê mùa đến khi cơ chế thị trường lan tỏa mạnh mẽ. 'Nỗi dau sinh thái hiện rõ trong những truyện ngắn viết về quá trình thành thị hóa nông thôn. Vũng quê Việt Nam yên ả, thanh bình với cảnh sắc thôn đã, những con đường làng bằng đất quanh co, thân thuộc, cánh đồng thẳng cánh cò bay.