CHƯƠNG 1 TƯ DUY NGHỆ THUẬT. VATU DUY NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYÊN NGỌC TƯ. NHIN TỪ PHƯƠNG ĐIỆN THẺ LOẠI 1. Tự duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật truyện ngắn 1-1-1 Tự duy nghệ thuật Tu duy, tai xuất phát điểm, là một phạm trà của triết học.
Trong Từ điển triét hoc của M.ludin, tư duy được định nghĩa như sau: “Tir duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tính ví của gần lố ý bảo thần kinh” và “Ti duy - sn phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực tế giới khách quan trong các khái niệm, phân đoán, ÿ luận, v:. Từ duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ảnh thực tại một cách giản tiếp, phát hiện những mắi liên hệ hợp quy luật thực tại” [60, tr 634] Trong bài viết VẺ bản chất của sư duy đăng trên Tạp chí Triết học, số 1 (152), tháng 01/2004, tác giả Nguyễn Mạnh Cương đã nêu rõ các luận điểm sau về tư duy: “Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, dụy là sản phẩm của một cơ quan vật chất sắng có tổ chức cao là bộ óc con người; được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Hiện thực khách quan là đối tượng của te cp và quyết định hoạt động tr duy của con người.
” |6] “Tie duy la trinh độ cao của quả trình nhận thức, là sự phản ảnh khái quát, giản tiép, tích cực và sáng tạo về thế giới. Ở giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phản ảnh một cách giản tiếp và khái quát trong các khái niệm, phản đoán và suy Khái quất hoá và trừu tượng hoá là đặc điểm của t duy, không có khải quát thì không có quả trình hình thành khái niệm, không thể xây dựng được các lý thuyết khoa học và nói chung, không có hoạt động nhận thức sắng tạo. Khải quát hoá không tách rời trừ. Hoạt động khái quát hoá của tư duy chỉ có thể xảy ra và thực hiện trên cơ sở một số thuộc tính quan trọng (xét ở một phương diện nào đó) đã được tte dhp trừu tượng tách ra khỏi những thuộc tinh khác.
Từ những thuộc tỉnh đã được trừu tượng hoá này, te duy đi tới bao quát cát chung, cái bản chắt, cái có tính quy luật" [6] "ác giả này đặc biệt nhắn mạnh tính sáng tạo của tr duy: “Tie duy, xé¢ về bản tinh, là một quả rrình sắng tạo. Nói đến tính sắng tạo của ne duy là nói đẩn sự hình thành ti thức mới vẻ các mắi liên hệ và quan hệ, vẻ tính quạ luật khách quan chỉ phối sự phát triển của các sự kiện và quả trình lịch sử, về bản chất của các khách thể vì mồ, 7 cũng như về diễn biến của hiện thực. Trên con đường nhận thức chân lý, chủ thé te duy không chỉ bids dét ra các vấn đề mới, mã cản giải quyét chúng bằng những phương pháp thích hợp. Đằng thời, đó cũng là quá trình chủ th tư duy huy động một cách sáng tạo vốn tí thức phong phú đã có, bao gầm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp: huy động không chỉ ti thức luận chung, mà cá sự am hiểu edn thiết, cụ thể về những lĩnh vực “có vẫn đề”.
Thiểu vẫn trí thức phong phú của cuộc sống sẽ không có tr duy sing tao. Ngoài ra, trong sự sắng tạo của tư duy ở trình độ luân khoa học cao còn có sự tham gia tích cực của tưởng tượng và trực giác. Các tư tưởng, quan niệm, lý thuyết khoa học. do tư duy sắng tạo ra cũng như bản thân tư.
dd có sự biển đổi, phát tiểu là do thực tiễu lịch sử - xã bội quyết định. Điu này không loại bỏ tính độc lập tương đối của tr dưy. Từ duy có lổgíc phát triển nội tại riêng, chịu sự chỉ phối của các quy luật (qwy tắc, nguyên tắc) riêng." [6] Các nhà tâm lý học cũng chú ÿ đến khái niệm tư duy trong việc nghiên cứu về hoạt động nhận thức của con người. Tâm lý học nhận thức quan niệm: hoạt động nhận.
thức của con người gồm hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. 'Nhận thức lý tính boo gồm tư duy và tưởng tượng; trong đó, tư duy “là quổ trình tâm 1ý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mỗi liên hệ và quan hệ bên trong có tink qup luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đồ ta chưa biết" [H] Lĩnh vực ngôn ngữ học thì quan tâm đến tư duy như là một chức năng của ngôn ngữ. Tư duy được ghỉ lại bởi ngôn ngữ. Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liễn với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ.
ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là cái vỏ vật chất của tư duy, Hiểu như vậy cũng có nại tự duy là một hoạt động nhận thức mà chủ thể là con người, đối tượng là hiện thực khách quan mã con người chưa biết và công cụ là ngôn ngữ. Không dùng lại ở việc định nghĩa tư duy, trong ý luận văn học, tập 1, Phương Lựa đi sâu vào việc tìm hi các bình diện của tư duy: “Có đhế chủa tự dhpy của con người làm ba bình diện khác nhau: e duy hành động - trực quan, ne duy hình tượng~ cảm tính và tự du khái niệm - logic” (18, t. Cụ thể: “Tee duy hành động - trực ‘quan là hình thức liên hệ trực tiếp với hiện thực trên cơ sở thực tiễn”, “Tir duy hình tượng - cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đổi với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng”, “Tw duy Khái niệm - logic tạy cũng là sự phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng nó thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng” [1§, 1. Tác giả cũng khẳng định: "Trong đời sống, các bình dign te duy nay hông tách rời nhau, mà liên hệ.
bỗ sung cho nhau. Nhưng có thế tách ra 8 thành các hình thức ne duy mà một bình dién ndo dé lai chi yéu. D6 la we duy khoa học, te duy nghệ thuật và tr dư thực ng ngdy. khái niệm ư duy nghệ thuật xuất hiện như một lịnh thức tư duy mà Phương Lựu quan niệm “he dụ hình tượng - cảm tính là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [1§, 266] va “he edu với sự tham gia tích cực của cá tỉnh sắng tao đã làm cho tư duy nghệ thuật khác hẳn the duy hình tượng cảm tính thông thưởng [18, tr270].
Có th hiễu, Phương Lưu nhận diện tư duy nghệ thuật, về cơ bản, là tư duy hình tượng mà hình tượng đó phải được tạo ra bằng hư mang tính chủ quan của nhà vi Trong bi viết Thiên ngộ với tr du nghệ thuật, tắc giả này lý giải thêm: “Từ duy nghệ thuật là một loại tự dụy mang tính chính thẻ nhằm phản ảnh và biểu hiện thé thai nhân tình võ cùng phong phú phức tạp muôn màu muôn vẻ, cho nên ngoài tr duy hình tượng là cơ sở, nó còn thư nạp nhiều yếu tổ khác của các loại we duy thé nghigm, lô- ‘gic da tr} mo hỗ, vô thức và nhất là trực giác nữa.” [19] Gần với quan điểm của Phuong Lar, trong Tie diy tho va tw duy tho Vit Nam ‘ign dai, Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Tie đuy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biẫu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tt duy nghệ thuật chịu sự chỉ phối mạnh mẽ của thể giới quan và nhân sinh quan của người sáng tao. Như vậy, Nguyễn Bá Thành cũng nhắn mạnh (đến việc săng tạo biểu tượng, hình tượng về thể giới khách quan dựa trên tính chủ cquan của nhà văn khi định nghĩa tư duy nghệ thuật. “Trong Từ điển thudt ngữ văn học, các tắc giả quan niệm: “Tt đụy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ tuật nhằm thải quát hỏa hiện thực vô giải nhiệm vụ thẩm mĩ".
"Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tính thân của hoạt dong chiém lĩnh thể giới bằng hình tượng quy định ”. “Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được”. “Cơ sở của nô là tình cảm ”. Nõ “đôi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiễp” cho nó.
Ngôn ngữ đồ là hệ thẳng các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện. Điểm xuất phát của nó “1à lí tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống. hóa các kết quá nhận thức ". Đặc điểm của nô “là tính Iva chọn, tính liên tướng, tính dn du”.
N6 là cơ sở đễ “tao ra các te tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật” [59, tr381, 382]. Tựu trung, các tác giả cho thấy tu duy nghệ thuật có nguồn gốc từ tỉnh cảm và lí trí của bản thân người sáng tạo, phát sinh do nhu cầu hình tượng hóa thể giới khách quan để chiếm lĩnh thể giới Ấy và được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, các phương thức, phương tiện nghệ thuật. 9 Từ sự kế thừa các công trình trước và qua việc tự nghiên cứu, chúng tôi di đến. cách hiểu: tr duy nghệ thuật là một quá trình tắt yếu và quan trong của hoạt động sing tao nghệ thuật.
Tư duy nghệ thuật, trước hết, là hoạt động nhận thức của chủ thể sing tao nghệ thuật, của người nghệ sĩ, hẹp hơn là của nhả văn. Đổi tượng của tư duy nghệ th là thể giới hiện thực; đó có thể những tn tại khách quan bên ngoài nhà văn, cũng có thể à những tổn tại chủ quan bên trong nhà văn. Hạt nhân cơ bản của tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, mà ở đây phải là các hình tượng nghệ thuật được sáng tạo bằng hư cấu mang cá tính sing tạo của nhà văn. Vàc “cùng, phương tiện và hình thức tồn tại của tư duy nghệ thuật là ngôn ngữ nghệ thuật, bao gồm các hình tượng, ngôn từ, giọng điệu.
Tue duy nghệ thuật truyện ngắn “Tư duy nghệ thuật, như đã nói ở trên, là cách nhà văn lý giải thể giới bằng hình. tượng nghệ thuật và nó tồn tại trong tác phẩm văn học bằng các hình thức nghệ thuật. Vi thé ma từ duy nghệ thuật không thể thoát khỏi sự chỉ phối của thể loại văn học - hình thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm văn học.