Chương I: Tỉnh đối thoại trong truyện ngắn 1930- 1945 và hành trình sáng. tạo nghệ thuật của Nam Cao “Chương 2: Tính đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao nhìn từ phương diện lời văn và giọng điệu Chương 3: Tính đổi thoại trong truyện ngắn Nam Cao nhìn từ phương diện tương tác thể loại CHUONG 1 TINH DOI THOAI TRONG TRUYEN NGAN 1930 — 1945 VA HANH TRINH SANG TAO NGHE THUAT CUA NAM CAO 1-1. Tính đối thoại trong truyện ngắn 1930 - 1945 1. Hình thái tính đối thoại “Đối thoại trong văn học là đối thoại nghệ thuật đảm nhiệm chức năng thẩm mỹ bao gồm hai bình diện lời kể và hội thoại” [38].
Tuy nhiên trước đó, vẫn đề đổi thoại mới được các nhà phê bình quan tâm, khai thác ở mảng thô, tức phần ngôn ngữ của văn bản. Thể kỹ XX với lý thuyết đối thoại của Mikhail Bakhtin, vẫn đề đối thoại trong văn chương nghệ thuật đã được đẩy sâu đến phần ý thức: các quan hệ đối thoại của ý thức con người. Với lý thuyết này, Bakhtin đã nêu lên bản chất ải thoại của ý thức và ngôn ngữ, vạch ra các hình thức đối thoại, từ đó đặt nền móng cho việc phân tích ngôn tử nghệ thuật theo những bình diện mới. Đối thoại trong quan niệm của M.
Bakhtin là khái niệm "siêu ngôn ngữ” khác với khái niệm đối thoại, hội thoại của ngôn ngữ học chỉ “giới hạn trong phạm vĩ lời hỏi, đáp thường được ghỉ vào trong ngoặc kép hoặc sau cái dấu gạch đầu dòng. Đồi thoại ở đây là thái độ của ý thức, tư tưởng, biểu hiện qua sự đồng tỉnh, phản đối, khẳng định, phủ định, hoài nghỉ, chế giễu” [42]. Và để khẳng định bản chất đối thoại của ý thức và ngôn ngữ, Bakhtin đưa ra tiền đề lý luận: “Lời nói của con người mang tính đối thoại, tính đối thoại là thuộc tính phổ quát của ngôn từ và tư cduy con người” [4, tr 18]. Ông cho rằng bản chất ngôn ngữ mang tính đối thoại bởi nó là nơi hội tụ, tranh biện của những quan niệm, tư tưởng khác nhau về thể giới, con người.
Ngôn ngữ là một hệ thống biểu hiện, nó phản ánh liên tục việc déi thay những giá trị và những địa vị xã hội chứ không phải là một hệ thống trừu tượng có sẵn, khách quan trước mọi cá nhân sử dụng ngôn ngữ. Cũng như con người phải đối thoại với nhau, đối thoại với cuộc sống để khẳng định sự hiện hữu bản thân rong xã hội, nhìn nhận đánh giá cuộc sống và “cải tạo mỗi quan hệ giữa người với người”. Phải cùng tổn tai, giao tiếp, soi ngắm, phản biện mình trong người khác, con người mới có thể nhìn nhận ra bản thân một cách sâu sắc, triệt để. “Tôi không thể sống mà không có người khác, tôi không thể trở thành chính tôi nếu không có người khác và tôi phải tìm thấy mình trong người khác và tìm thấy người khác trong chính mình” [32].
Bản chất tổn tại của giao tiếp đổi th i dy quy định sự sống của ngôn từ: “Ngôn ngit cf 1g trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp đổi thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống của ngôn ngữ 32]. Đó là sự xâm nhập thường xuyên của ngôn từ người khác vào ngôn từ của một chủ thể, tạo thành tính đối thoại bên trong của phát ngôn đó. Như vậy, mọi phát ngôn không thể trung tính vì nó cũng bị bao bọc bởi những ý tưởng, quan điểm, lập trường, giọng điệu khác và buộc phải gia nhập những mỗi quan hệ qua lại phức tạp ấy bằng cách tương tác, tán đồng hoặc ly khai: “Lời nói trên đường đến với đối tượng của mình tắt yêu rơi vào môi trường đối thoại luôn luôn cuộn sóng và căng thắng [4, tr104] và "trên tắt cả mọi no đường đến với tượng, ở mọi hướng, ngôn từ đều gặp gỡ những lời của người khác và không thé không tương tác sống đông và căng thẳng với chúng” [4, tr 108].
Người khác ở đây là người đổi thoại, là nhân vật được sáng tạo ra, là chính tác giả khi tự mình soi vào mình như tắm gương, Đó là tính đối thoại của ngôn ngữvà ý thức [42] Từ nguyên lí đối thoại, Bakhtin đã tiếp cận và khai thác thể loại tiêu thuyết nói chung và sắng tác của Dostoievski, Rabelais nói riêng. Trong, luận về thể loại này, ông đã xem tính tấu thuyết tức là tính thoại: "Sự phát trí tiếu thuyết là quá trình khơi sâu tính đối thoại, mở rộng nó và lâm cho nó ngày cảng trở nên tỉnh tế” (4, 128]. Với ông, tiểu thuyết đ với các hình thức thơ ca như thơ sử thị, các loại thơ trữ tình bởi tiểu thuyết là nơi thể hiện tính đối thoại, trong khi những thể loại khác về cơ bản là độc thoại. Bakhtin xem Dostoievsk là đại diện lý tưởng nhất cho sự sắng tạo văn học có tính đối thoại bởi ông đã sáng tạo ra một loại tiểu thuyết mới: tiết thuyết đa thanhiphức điệu.
Bakhtin quan niệm "tiêu thuyết đa thanh toàn bộ là mang tính dối thoại [3, tr. Tính đối thoại trong tác phẩm của Dostoievski không đơn giản I trao - đáp được sắp đặt sáng tạo trong văn ban từ một ý thức duy nhất có vai tò chỉ phối của tác giả. Trong tiểu thuyết đa thanh, phúc điệu “không một ý thức nào trở thành đối tượng từ đầu chí cuối cho một ý thức khác” [3, 22]. Điều này còn được hiểu, với chức năng đa thanh, tiểu thuyết cho chúng ta thấy, nó không hiện hữu trong cung giọng quyền uy, độc tôn, khỏa lấp đi tất cả những mối quan hệ và những đối thoại giữa các nhân vật mà là một thể giới dân chủ.
Ở đó, mọi chủ thể, từ nhân vật đến người thuật đều bình đẳng, được tự do xác quyết cho mọi tâm tư, suy nghĩ của con người cá nhân. Cũng trong tiểu thuyết Dostoievski, khi tim hiểu đặc, :m ngôn ngữ, Bakhtn nêu ra thuật ngữ: điển ngón hai giong. Tức, vẫn đề lời trần thuật của mỗi cá nhân vừa mang sắc màu riêng, vừa ling ghép trong đó một thứ giọng khác và luôn ở trong tình thế tranh biện với nhau. Tir tinh chất này, trường diễn ngôn được biểu hiện ở đây hướng tới hai mục đích thứ nhất, dẫn giải trực tiếp hình thức giao tiếp cho nhân vật; thứ hai, cho nhân vật — chủ thể đang chiếm lĩnh không gian trong mạch truyện kể được gắn liễn với mục đích của chủ thể sáng tạo.
Đối với sáng tác cia Rabelais, Bakhtin cũng có những kiến giải xuất phát từ nguyén lí đối thoại trong tư tưởng của ông. Theo Bakhtin, tiểu thuyết Rabelais bắt nguồn từ truyền thống lễ hội hóa trang cỗ đại và Phục hưng ở Châu Âu. Trong lễ hội hóa trang, với những trò “tắn phong - hạ bệ” nơi quảng trường, tt tự tôn t, thứ bậc, đẳng cấp trong xã hội bị đảo lộn. Mọi đường biên phân biệt sân khấu và quảng và khán giả, thượng lưu và hạ lưu, lớp trên và lớp đưới bị xóa * hiện ra: những kẻ xuẫn ngốc, khủng dân, dị dang diễn trò như những kẻ quý tộc, vua chúa, tăng lữ và ngược lại.
LỄ hội carnaval bi ch, chégidu, cười cợtắt cả những quan phương, cứng đờ, hoàn tắt bằng một ngôn ngữ trần tục và kịch tính của "giai tằng thân xác”: hình ảnh của những thân xác khổng lồ, những cái bụng to tướng, những bộ phận sinh dục phì đại, những kế tric ting, những kẻ say sưa bửa bãi và cẩu thả, những thẳng ngốc và những tén hé di dang. Camaval, thong qua những cách thức như vậy, ca tụng thân xác tập thể có tính phi quan phương của con người, đứng lên chống lại ý thức hệ cquan phương và diễn ngôn của các tôn giáo và quyền lực thống trị. Những tính chất 10 này di truyền vào thể loại tiêu thuyết, được thể loại này kế thừa xuất sắc. Nó tiếp sân đối tượng của mình một cách suồng sã, đối thoại hỏa những lực lượng quan phương, nghiêm trang và những chân lý bắt biển, giáo điều bằng một ý thức hệ bình ding, din cha, khỏe khoắn, lành mạnh.
Tiểu thuyết tién hành giải cấu trúc, hạ bệ, báng bổ, đưa tắt cả những gì có tính chất độc thoại vào khu vục tiếp xúc suồng sĩ của tiếng cười. Như thể, tỉnh thần tiểu thuyết của Rabelaisở cội rễ của nó là tỉnh thần đối thoại. \Véi Bakhtin, t8n tại là đối thoại, ngôn ngữ là đối thoại và tính tiêu thuyết là dối thoại. Theo đây, về bản ch, tỉnh đối thoại của Bakhún còn được hiễu là tinh liên chủ thế.
Tính đỗi thoại được cấu trúc dựa trên nguyên lí đối thoại của chủ thể tinh trong khất vọng vượt lên, kiếm tìm cái mới la, độc đáo vẫn tổn ti ngay trong thể giới tính thin và hiện thực hóa bằng niềm tin vào sự vân động của thêm quyền cdiễn ngôn thuộc. trường ý thức. Bởi vậy, từ lý thuyết đối thoại ctia Bakhtin, u học giá đương thời và sau đó đã tiếp thu, dẫn giải, phát triển theo các chiến lược nghệ thuật khác nhau. Một trong những người giới thiệu cũng như phát huy tối đa công năng lý thuyết đối thoại của Bakhtin chính là Julia Kristeva qua vie dé xuất nh liên văn bản như phép thể cho tính đổi thoại, nh liên chủ thể.
Theo đố, trong công trình Ti, déi thoai va riéu thuyér (1967), bên cạnh việc giới thiệu, Kristeva di di vao phan tích tư tưởng Bakhtin và gọi tên kết quả của hành động tw duy ngôn ngữ trong van ban là in van ban. Theo Kristeva: bit kỳ văn bản nào cũng là sự hí thy va sự. c văn bản khác hay chính là sự tương tác của các văn bản. Sau đó, khái niệm liên văn bản được Roland Barthes khai trin khai trên mỗi quan bệ của trường giá trị thẩm mĩ.
Ông quan niệm, moi văn bản đẫu là liên văn bản đối với một văn bản khác, Văn bản theo Barthes không phải là một tổ hợp ngôn ngữ tự trị mà là một không gian đa bội với vô số văn bản, chứa đựng nhiều hiểu biết, niềm tìn, văn hóa khác nhau. Tiếp theo đó, khái niệm liên văn bản được sử dụng phổ biển, biện giải rong tư duy của các nhà hậu cấu trúc của Pháp nhưJ. và hậu cầu trúc của Mỹ như Paul de Man, H. Miller din giải với ý nghĩa gần như nghĩa gốc.
" “Cho đến nay, khái niệm liên văn ban cia Kristeva trong quá trình giới thiệu, diễn giải Bakhtin trở thành một trong những lý thuyết trung tâm của chủ nghĩa hậu hiện đại.