MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề ải 1 2. Lịch sử nghiên cứu vin dé 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 -4.
Phương pháp nghiên cứu s 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tải § 6. Bố cục của luận văn. Li THUYET DOL THOAL VA Ki V0 BANG TRONG DONG (CHAY THÊ LOẠI KÍ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 6 1.1, Khái quát về lí thuyết đối thoại và tính đối thoại trong th loại kí 6 1-1-1.
Về lí thuyết đối thoại 6 1. Tính đối thoại trong thể loại kí 10 1. Kí Vũ Bằng trong dang chay ki Vigt Nam hiện đại 14 1. Đặc trưng đối thoại trong ki Việt Nam hiện đại 14 1.
Ki Va Bằng, sự kế thừa và sắng tạo trongtư duy đối thoại 18 CHUONG 2. TÍNH ĐÓI THOẠI TRONG KÍ VŨ BẰNG NHÌN TỪ PHƯƠNG. "Cái tôi” say đắm trước vẻ đẹp “thời trân” bình dị 29 2. “Cái tôi” khôa lắp trong giá trị truyền thống văn hóa 35 2.
Một "cái tôi” khắc khoải trong tiếng vọng "cỗ hương” 44 2. Tính đối thoại trong tạo dựng niềm tin cho *cái tôi” khơi sâu vào yếu tính bản thể 47 2. “Cải tôi” hoài vọng trong khoảng trống suy tư bắt định. “Cái tôi” lưu đầu trong mảnh ghép ký ức của thể giới “hiện tổn” sĩ 2.
“Cai tôi” mặc định trong khát vọng nhân sinh 5 'CHƯƠNG 3. TÍNH ĐÓI THOẠI TRONG KÍ VŨ BẰNG NHÌN TỪ PHƯƠNG THUC TRAN THUAT. 60 trong tổ chức điểm nhìn trần thuật 60 3. Điểm nhìn “thoại dẫn" 60 3.
Điểm nhìn trao vai 62 3. Phối điểm nhìn 64 3. Tinh déi tho trong kiến tạol 61 3. Lời văn gián tiếp 68 3.
Lời văn trực tiếp. Lời văn tạo sinh các "lớp sóng ngôn từ” 78 80 3. Giọng xót xa, ngâm ngii 80 3. Giọng triết l, suy tư.
Giọng va xiết trong mạch đổi âm 86 KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO. MO DAU 1, Lý do chọn đề tài 1. Nguyên lí đối thoại nghệ thuật là một phạm trảlí thuyết của khoa học nghiê cứu văn học, Thuật ngữ mang tính khái niệm này hướng tới dẫn giải cho những giá trì thẩm mĩ trong mỗi quan hệ mang tinh tương tác giữa các yếu tố trong và ngoài vin bản; đồng thời cu thé hóa thấm quyền diễn ngôn cho mỗi thể loại. Lí thuyết đối thoại cho phép người đọc khám phá những tằng ý nghĩa tiềm tại ở cả mặt trước và trong thoại trong nghiên khóa để giải mã giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc trong luận giải về cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ.
Đồng thời, dưới ánh thoại, người đọc có cơ hội tìm hiểu sâu hơn tác phẩm kí của Vũ "Bằng qua những kênh tiếp nhận mới mẻ, da chiều và hấp dẫn.2, Va Bing (1913 - 1984) là một nhà văn tải hoa với phong cách độc đáo, Ấn tượng. Ông đã thật sự thành công trong thể loại kí với những tác phẩm đặc sắc, mang đâm dầu ấn cá nhân như: Cai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miễn Nam, Bn mươi năm nối láo, Thương nhớ mười hai,. Đặc biệt trong hành trình sáng tạo, Vũ Bằng lun chú ¥ gia cố cho sản phẩm nghệ thuật của mình trong nhiều kênh đối thoại. Không khí đối thoại được tác giả biểu hiện rõ nét nhất trong chiều sâu tác phẩm là thông qua những cuộc chuyện trò của hình tượng “cấi tôi” diện hình trong nhiều ngữ cảnh đổi thoại khác nhau.
Đó là cái tôi hiện hữu trong những khoảnh khắc suy tr, trăn trở, cái tôi kiếm tim bản ngã, khát khao được trở về với cổ hương, được trỏ chuyện cũng kí ức và được sống trong niém yêu tin. Tính đối thoại còn được nha văn thễ hiện ở phương thức nghệ thuật đặc sắc: ừ hình thức tổ chức điểm nhìn trần thuật đến cách kiến tạo lời văn trần thuật và giọng điệu trần thuật Vì vậy, khám phá kí Vũ Bằng từ góc nhìn của tính đối thoại là cách chúng tôi hướng tới cắt nghĩa, lí giải giá trị nghệ thuật được phản ánh trong những mặt cắt không gian thẩm mĩ khác nhau. Tuy vậy, việc ứng dụng lí thuyết đối thoại để tiếp nhân, giải mã những hiện tượng văn học Việt Nam cho đến nay chưa thật sự được quan tâm đúng mức. Hướng nghiên cứu nay còn tiểm ting nhiễu nội him giá trị để ngỏ.
Bởi vậy, việc nhận diện, đánh giá những sing téc kí của Vũ Bằng dựa trên cơ sở của nguyễn li đối thoại nghệ thuật là một việc làm cần thiết vừa mỡ ra những giá trị khoa học thực tiễn trong hoạt đông tiếp nhân, vừa góp phần khẳng định về vị thể của tác giả và tác phẩm trong sự vân động, phát triển của thể loại văn học này. Với đề tài: Tính đối thoại trong ki Vi “Bằng, chúng tôi mong muốn vận dụng thêm một cách tiếp cận vào chiều sâu tỉnh thần văn bản, không ngoài mục đích đi xa hơn trong khám phá vẻ đẹp độc đáo của đối tượng nhận thức - khách thể thẩm mĩ được phản ánh trong tác phẩm. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Voi những giá trị đặc sắc ở cả hai mặt nội dung và hình thức, kí Vũ Bằng đã trở thành đối tượng thắm mĩ được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến những công trình, bài viết, nghiên cứu liên quan đền phạm vi khảo sát.
Trang Vũ Bằng - Người lữ hành đơn côi, tựa Vũ Bằng toàn tập, tác giả “Triệu Xuân nhân định: *?hương nhớ mười hai” là một trong những áng văn bắt hủ thương quê hương, yêu thương Hà Nội hơn ai hết thì mới viết được một cuỗn sách như thế! Nhưng như thể cũng chưa đủ. Phải là một con người chứa chất một niềm đau không thể giải bày cùng ai, gánh chịu một nỗi cô đơn khủng khiếp lắm mới tuôn được a ngồi bút mình những câu văn như có ma ám, từng dòng, từng dòng như bị một thé lực siêu nhiên vừa hành hạ, vừa chấp cánh cho tâm hỗn, cho cõi lòng, để bao nhiêu tài họa biến (hành niềm thương nhớ thấu tri thầu đấu” [%4]. Thay cho ời bạt ong cuốn sách: Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, vấn học của Vit Bing đã cho tằng các tác phẩm" của Vũ Bằng "thục chất là hiện chính con người mình hôm nay, một con người cô đơn vì nhiều lý do khác nhau; và chính vì cô đơn nên lúc nào cũng mang một tắm lòng vời vợi nỗi nhớ thương về xứ Bắc, về bạn văn một thuở, nhớ thương về những ngày tháng cũ. Quá khứ chưa xa ấy chính là nơi nương tựa, nguồn an ủi của tâm hỗn [19, tr.
Cả hai nhận định gặp nhau ở chỗ đều nhận ra một chủ thể luôn hoài vọng về chỗn quê nhà. Trong tâm thức chủ thể ấy chứa đựng những niềm riêng, những nỗi "cô đơn” chưa thể tỏ bay nên cảng làm cho nỗi nhớ quê hương trở nên chắt chồng, phủ kín. Và rồi, chính chốn quê nhà lại trở dây, đánh thức một con người khác trong tác giả, một con người mạnh mẽ, an yên với khát vọng được tựa vũng trong hơi ấm "cổ hương”. Trong bài viết: Đằng sau cái phản đẻ này, tác giả Phạm Ngọc Luật cho rằng trong nhiều trang viết, Vũ Bằng “khong giấu được nét trăn trở tỉnh thần một con người tuy chưa bao giờ là nghèo khổ nhưng luôn luôn ý thức được rằng mình cũng chỉ là công dân, là người viết báo của một đắt nước bị áp bức, bị nô lệ.
Bởi vậy cũng là dễ hiểu khi ta thấy ông không giấu diềm kế về cái ngày xưa lao vào hút xách chơi bời, hút quên chết, hút tối ngày; con người chưa có gan đặt cả hai chân vào đời sống kháng chiến gian khổ của dân tộc, lại là người đã làm việc không cùng cho nghề báo, lại là người (khi đã định vị cuộc đời ở phía trời bên kia của chế độ) vẫn không thôi nguôi ngoái, tiếc nhớ và trân trọng về một thời làm báo làm văn với bạn bè đồng nghiệp giữa Hà Thành” [6, tr389 - 393] Có lẽ, đây chính là một chủ thể luôn mang tong mình trách nhiệm với đắt nước, với non sông, với nghiệp báo mà mình đa mang. Cái tôi ấy "DO các tác phẩm: Mểng non Hà Nội, Món là miễn Nam, Bn mươi năm nồi láo, Thương nhớ mười hai 3 luôn mang theo trong mình chân trời của kí ức để mỗi khi thấy chông chênh lại khao khát im về hoài văng với những trân trọng, nhớ thương Với bài viết: Phẩm chất nhà báo trong sự nghiệp văn chương Ủíĩ Bằng, tác giả Đỗ Thị Ngọc Chỉ nhận định: “Con người đồ luôn nhớ tiếc, trân trọng về một thời làm báo với những bạn bè, văn nhân một thuở. Chúng ta có cảm giác, khắp trang viết của Va Bing diu du cũng thấy được khoác bằng chiếc áo nhớ thương” [12, tr4]. Nỗi niềm hoài vọng lại một lần nữa được m thấy trong những sáng tác của Vũ Bằng để người đọc được đồng điệu cùng ông trong những kí ức vô giá của dòng chảy thời gian.
Dường như, chồng lần trong chủ thể là những mảng màu của kỉ ức ngày xưa để hôm nay lại quay về phù kín, làm tròn, làm đầy trong thể giới tâm hỗn tác giả Phiên chợ Tết với tất cả những huyền náo, tấp nập đường như hòa cùng với những gi tr truyền thông văn hóa đễ trở thành một sinh th sống động rong tâm thức tắc giả qua bài viết: Chợ Tết trong rôm thức Vũ Bằng qua “Thương nhớ mười hai" của Trần Hoäi Anh: "Là một nhà văn, không những thể lại côn là một nhà văn hóa, chợ Tắt đã đi vào tâm thức của Vũ Bằng qua tác phẩm “hương nhớ mười lai của ông thật sinh động. Nó đã trở thành một nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh để kết tỉnh thành những dự phóng sắng tạo. Cho Tét, vi thể đã tạo nên những trang văn đẹp nhất, lung lĩnh nhất trong °7Öương nhớ mười ai” nỗi iếng của ông” 144] Tác giả Ngô Thị Hy trong bãi viết Cảm xúc ngủy Tế của Vũ Bằng trong ương nhớ mười hai" chia sẻ với bạn đọc vỀ những chân giá tr tồn hữu theo thời sian: “Ghi Iai hdi ie vé sinh hoạt ngày tết vùng Bắc Bộ, Vũ Bằng đã đưa vio trang viết những nét đẹp của nÊn văn hóa cổ truyền của dân tộc được lưu giữ qua thời gian và thấm vào máu thịt tâm hỗn mỗi con người.