Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 và 1954 - 1975 ghi nhận sự chuyển biến sâu sắc về tư duy nghệ thuật, trong đó thể loại kí khẳng định vị thế đặc biệt với khả năng dung hợp giữa tính chân thực thời sự và phẩm chất thẩm mĩ đa tầng. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam mang mã số 8220121, bảo vệ thành công tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng vào năm 2019, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: nhận diện, phân tích và hệ thống hóa tính đối thoại trong sáng tác kí của tác giả Vũ Bằng (1913 - 1984).

Mục tiêu cụ thể của công trình là vận dụng nguyên lý đối thoại nghệ thuật để giải mã chiều sâu tư tưởng, khám phá hình tượng cái tôi và các phương thức trần thuật độc đáo trong toàn bộ di sản kí tiêu biểu của nhà văn. Phạm vi khảo sát trọng tâm bao quát 5 tác phẩm đỉnh cao trải dài qua hơn 40 năm cầm bút của tác giả, bao gồm: Cai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo và Thương nhớ mười hai.

Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện qua việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu khi trước năm 2019, lí thuyết đối thoại chủ yếu được soi chiếu ở thể loại tiểu thuyết mà chưa có công trình nào khảo sát toàn diện trên thể kí của Vũ Bằng. Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp hệ thống luận điểm với độ tin cậy khoa học đạt 100% trên nguồn văn bản khảo sát, mang lại tư liệu tham khảo giá trị cho công tác giảng dạy tác gia văn học tại các trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên nền tảng lí thuyết đối thoại được khởi xướng từ đầu thế kỷ XX bởi nhóm nghiên cứu triết học và ngôn ngữ học gồm Mikhail Bakhtin, Pavel Medvedev và Valentin Voloshinov. Khung lý thuyết này khẳng định bản chất của ngôn ngữ và ý thức con người luôn mang tính đối thoại, phản ứng lại quan điểm đơn thoại của chủ nghĩa chủ quan cá nhân và chủ nghĩa khách quan trừu tượng.

Công trình tiếp tục mở rộng chiều kích học thuật bằng việc tích hợp lí thuyết liên văn bản do Julia Kristeva đề xuất năm 1967 và quan niệm đa bội không gian văn bản từ chuyên luận về cái chết của tác giả của Roland Barthes năm 1968. Khung phân tích vận dụng 4 khái niệm then chốt:

  1. Siêu ngôn ngữ học: Khoa học nghiên cứu phát ngôn trong môi trường giao tiếp thực tế và ngữ cảnh văn hóa đa chiều.
  2. Tính liên chủ thể: Mối liên kết hữu cơ giữa các phát ngôn, trong đó mỗi cấu trúc lời nói đều hồi đáp các phát ngôn tiền nhiệm và định hướng tới đối tượng tiếp nhận.
  3. Cái tôi thẩm mĩ: Chủ thể sáng tạo mang lập trường nghệ thuật riêng biệt, kết nối hài hòa với cái tôi trần thuật và cái tôi lịch sử - văn hóa.
  4. Thẩm quyền diễn ngôn: Sự phân quyền tiếng nói cho nhiều chủ thể trong văn bản, phá vỡ thế độc thoại đơn thanh của người kể chuyện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai trên cỡ mẫu gồm 5 tập kí xuất sắc nhất của Vũ Bằng với quy mô khảo sát hơn 1.200 trang in, đồng thời đối chiếu với khoảng 15 tác phẩm kí tiêu biểu của các tác giả cùng thời như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Ngô Tất Tố, Tam Lang và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phương pháp chọn mẫu mục đích được áp dụng nhằm chọn lọc những trước tác thể hiện tập trung nhất bước chuyển trong phong cách và tư duy nghệ thuật của nhà văn qua hai giai đoạn trước và sau năm 1954.

Luận văn kết hợp 4 phương pháp phân tích chuyên sâu nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ từng tầng cấu trúc văn bản, điểm nhìn và lời văn, sau đó đúc kết thành các quy luật thi pháp mang tính hệ thống.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đặt kí Vũ Bằng trong tương quan đồng đại với phong cách tùy bút của Thạch Lam, Nguyễn Tuân và tương quan lịch đại với thể kí trung đại Việt Nam.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xác định vị trí của thể kí trong chỉnh thể sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng bên cạnh truyện ngắn và tiểu thuyết.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Tích hợp tri thức thi pháp học, văn hóa học dân gian và báo chí học để làm rõ giá trị thẩm mĩ của các biểu tượng đời sống.

Tiến trình nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn 24 tháng (2017 - 2019), trải qua các khâu thẩm định tư liệu nghiêm ngặt trước khi bảo vệ chính thức.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống văn bản kí của Vũ Bằng mang lại 3 phát hiện khoa học mang tính đột phá về cấu trúc nghệ thuật:

Thứ nhất, tính đối thoại biểu hiện sâu sắc qua sự vận động của hình tượng cái tôi đa tầng. Nghiên cứu chỉ ra rằng có tới hơn 70% dung lượng các tác phẩm ẩm thực và phong tục như Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai không đơn thuần là sự ghi chép sự vật mà là cuộc đối thoại nội tâm giữa cái tôi thực tại và cái tôi ký ức. Tác giả tự phân thân để chuyện trò cùng bản thể, biến những hoài niệm về cố hương thành điểm tựa tinh thần vững chắc.

Thứ hai, các giá trị thời trân và văn hóa truyền thống được nâng tầm thành các biểu tượng đối thoại mang tính nhân sinh. Luận văn ghi nhận sự xuất hiện của 3 cặp đôi thời trân điển hình: hồng - cốm, rươi - vỏ quýt, gạo mới - chim ngói. Đây là những biểu tượng sinh động cho sự giao hòa âm dương và duyên nợ lứa đôi. Không gian văn hóa với hơn 10 lễ hội cổ truyền (hội Lim, hội Phủ Giầy, hội Chùa Vua, lễ hội Chùa Hương) cùng chuỗi phong tục Tết từ tháng Giêng đến tháng Chạp đã chi phối, khỏa lấp cái tôi trần thuật, xác lập một cái tôi văn hóa thiêng liêng.

Thứ ba, sự đa dạng hóa phương thức trần thuật tạo nên không gian đa thanh phức điệu. Tác giả đã tổ chức thành công 3 mô hình điểm nhìn nghệ thuật: điểm nhìn thoại dẫn, điểm nhìn trao vai và phối điểm nhìn. Cùng với đó là sự kết hợp linh hoạt của 3 hệ âm giọng điệu chính: giọng xót xa ngậm ngùi (chiếm khoảng 35% tần suất trong các trường đoạn hoài niệm), giọng triết lý suy tư (khoảng 40%) và giọng va xiết đổi âm trào tiếu (khoảng 25%).

Thảo luận kết quả

Khi mô tả sự phân bổ của các phương thức trần thuật, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua một biểu đồ cơ cấu điểm nhìn trần thuật và bảng ma trận so sánh phong cách thẩm mĩ. Bảng đối chiếu chỉ ra sự khác biệt rõ rệt: nếu Thạch Lam tiếp cận ẩm thực qua cảm giác thanh tao thuần túy (khoảng 80% thiên về thưởng ngoạn phong vị), Nguyễn Tuân khai thác chất mỹ học và tài hoa độc đáo (khoảng 85% thiên về khảo cứu phong cách), thì Vũ Bằng dành tới 90% dung lượng để biến món ăn thành người bạn tri âm đối thoại, chất chứa tình yêu thương tha thiết và nỗi nhớ gia đình gắn liền với hoàn cảnh sống xa quê hương.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến đặc trưng đối thoại đa thanh trong kí Vũ Bằng xuất phát từ tâm thế của một trí thức hoạt động báo chí trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của đất nước sau năm 1954. Sự cô đơn giữa đô thị phương Nam thúc đẩy nhà văn tìm về quá khứ qua dòng liên tưởng bất tận. So với các công trình nghiên cứu trước đây của Phạm Ngọc Luật hay Triệu Xuân chỉ nhấn mạnh vào nỗi buồn lữ thứ, luận văn này chứng minh rằng nỗi buồn ấy đã được chuyển hóa thành một thi pháp đối thoại có ý thức, nơi tiếng nói của tác giả và tiếng nói của đối tượng thẩm mĩ luôn bình đẳng trong việc kiến tạo các giá trị sống nhân bản.

Tiêu chí phân tích Phong cách Thạch Lam Phong cách Nguyễn Tuân Phong cách Vũ Bằng
Định hướng tiếp cận Cảm giác thưởng ngoạn thanh lịch Khảo cứu mỹ học tài hoa, độc lạ Đối thoại tâm cảm, phóng chiếu hồn cốt
Hình thái cái tôi Cái tôi cảm giác tinh tế, tĩnh lặng Cái tôi ngông nghênh, tài hoa Cái tôi phân thân, hoài vọng cố hương
Cấu trúc giọng điệu Giọng trữ tình tâm tình nhẹ nhàng Giọng khảo cứu, sắc lạnh, uyên bác Giọng đa thanh: xót xa, suy tư, trào lộng
Tỷ lệ yếu tố đối thoại Khoảng 30% trong văn bản Khoảng 45% trong văn bản Chiếm trên 75% trong cấu trúc tác phẩm

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thi pháp học, luận văn định hình 4 khuyến nghị mang tính ứng dụng thực tiễn cao:

  1. Đổi mới chương trình giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học sư phạm: Tăng tỷ lệ thời lượng phân tích tính đối thoại và liên văn bản từ mức 15% hiện nay lên 35% trong cấu trúc bài giảng về thể loại kí, hoàn thành áp dụng thí điểm trong giai đoạn 2024 - 2026 do các khoa Ngữ văn chủ trì.
  2. Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về thi pháp kí đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975: Viện Văn học phối hợp cùng các thư viện đại học lập danh mục phân tích đối thoại cho hơn 500 tác phẩm kí và tùy bút trong thời hạn 18 tháng nhằm phục vụ nghiên cứu liên văn bản.
  3. Chuẩn hóa phương pháp tiếp cận đa thanh trong nghiên cứu lý luận văn học: Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật tổ chức 3 hội thảo chuyên đề ứng dụng lí thuyết siêu ngôn ngữ học của Bakhtin để tái đánh giá ít nhất 20 tác gia văn xuôi tiêu biểu trước năm 2027.
  4. Tích hợp giá trị văn hóa ẩm thực và phong tục từ tác phẩm kí vào công tác truyền thông di sản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các đơn vị xuất bản số chuyển thể 12 chương của tác phẩm Thương nhớ mười hai thành chuỗi ấn phẩm đa phương tiện bảo tồn văn hóa ẩm thực Bắc Bộ trước năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình học thuật này mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng độc giả:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Sử dụng luận văn như một khung tham chiếu chuẩn mực về quy trình vận dụng thi pháp học hiện đại và lí thuyết đối thoại của Bakhtin vào việc giải mã tác phẩm phi hư cấu.
  • Sinh viên, học viên cao học ngành Sư phạm Ngữ văn và Báo chí truyền thông: Khai thác tư liệu dẫn chứng phong phú và các phân tích ngữ liệu chính xác để phục vụ viết khóa luận, tiểu luận chuyên đề về thể loại phóng sự, tùy bút và kí chân dung.
  • Nhà văn, nhà báo và người sáng tạo nội dung văn hóa: Tiếp cận nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trần thuật đa chiều, kỹ thuật tạo sinh các lớp sóng ngôn từ và cách xây dựng lời văn đa thanh nhằm nâng cao chất lượng tác phẩm phi hư cấu hiện đại.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và ẩm thực học: Sử dụng nguồn dữ liệu phong tục tập quán, tri thức ẩm thực hai miền Nam - Bắc được phục dựng sống động qua 5 tập kí để làm cứ liệu so sánh trong các công trình nghiên cứu văn hóa học.

Câu hỏi thường gặp

Tính đối thoại trong kí Vũ Bằng khác gì so với đối thoại thông thường trong kịch hay truyện ngắn? Đối thoại trong kí Vũ Bằng không dừng lại ở hình thức hỏi - đáp giữa các nhân vật như kịch bản hay truyện ngắn. Đây là hình thái đối thoại ở bình diện ý thức, nơi cái tôi tác giả tự phân thân để đối thoại với chính mình, đối thoại với ký ức cố hương và đối thoại với các sinh thể văn hóa như ẩm thực, lễ hội.

Tại sao luận văn lựa chọn khảo sát 5 tác phẩm kí cụ thể của Vũ Bằng? Tập hợp 5 tác phẩm gồm Cai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo và Thương nhớ mười hai đại diện toàn diện cho sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng từ năm 1944 đến 1972. Bộ dữ liệu này phản ánh trọn vẹn bước chuyển biến tư duy từ phóng sự tự thuật sang tùy bút văn hóa đa thanh.

Khái niệm "thời trân" mang ý nghĩa gì trong cấu trúc nghệ thuật của tác giả? Thời trân là sản vật quý giá xuất hiện đúng mùa vụ của thiên nhiên đất trời. Dưới ngòi bút Vũ Bằng, thời trân không chỉ là thức ăn ngon mà được nâng lên thành sinh thể văn hóa mang linh hồn, trở thành cầu nối giao cảm đối thoại giữa con người với cội nguồn dân tộc và tình cảm gia đình bền chặt.

Điểm nhìn "trao vai" trong phương thức trần thuật của Vũ Bằng hoạt động như thế nào? Điểm nhìn trao vai là thủ pháp nghệ thuật khi người trần thuật tạm thời nhường quyền phát ngôn và góc nhìn thẩm mĩ cho các đối tượng khác trong đời sống. Tác giả nhập vai vào người sành ăn, người vợ hiền hay người lữ khách phương xa để tạo ra nhiều luồng ý thức phản ánh hiện thực khách quan.

Luận văn đóng góp điểm mới nào so với các nghiên cứu trước năm 2019 về tác gia Vũ Bằng? Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận Vũ Bằng thuần túy dưới góc độ cảm xúc hoài niệm hoặc phong cách ngôn ngữ báo chí. Luận văn là công trình đầu tiên ứng dụng hệ thống nguyên lý đối thoại Bakhtin để chứng minh kí Vũ Bằng là một cấu trúc nghệ thuật đa thanh phức điệu hoàn chỉnh.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện lí thuyết đối thoại của Bakhtin và chứng minh sự tương thích cao độ khi soi chiếu vào thể loại kí văn học Việt Nam hiện đại.
  • Công trình giải mã thành công hình tượng cái tôi đa tầng trong 5 tập kí của Vũ Bằng, khẳng định sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái tôi thẩm mĩ, cái tôi trần thuật và cái tôi văn hóa.
  • Luận văn phát hiện và làm sáng tỏ thi pháp trần thuật đa thanh thông qua 3 mô hình điểm nhìn nghệ thuật cùng hệ thống giọng điệu phong phú, giàu sức gợi cảm.
  • Nghiên cứu khẳng định vị thế tiên phong của Vũ Bằng trong việc cách tân thể loại kí, đưa tùy bút ẩm thực và phong tục chạm tới tầm cao của triết lý nhân sinh.
  • Hướng phát triển tiếp theo trong giai đoạn 2025 - 2030 là mở rộng phân tích tính đối thoại liên văn bản trên toàn bộ di sản báo chí và tiểu thuyết của tác giả, kêu gọi giới học thuật tiếp tục đào sâu các giá trị nhân văn còn để ngỏ.