Luận văn: Tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính từ góc nhìn liên văn bản

Khám phá luận văn thạc sĩ về tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính từ góc nhìn liên văn bản, phân tích sâu sắc và ý nghĩa văn học Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Văn Hóa

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính từ liên văn bản

Việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính từ góc nhìn liên văn bản mở ra một hướng đi mới mẻ và sâu sắc. Đây không chỉ là một phương pháp phê bình văn học hiện đại mà còn là chìa khóa để giải mã thế giới nghệ thuật phức tạp của nhà văn. Lý thuyết liên văn bản, khởi xướng bởi Julia Kristeva và phát triển từ tư tưởng đối thoại của Mikhail Bakhtin, cho rằng mọi văn bản đều là một "bức khảm trích dẫn", một không gian hội tụ và chuyển hóa của các văn bản khác. Áp dụng lý thuyết này, luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam về Nguyễn Đình Chính không còn nhìn nhận tác phẩm như một thực thể đóng kín. Thay vào đó, nó được xem là một mạng lưới chằng chịt các mối quan hệ, đối thoại với lịch sử, tôn giáo, văn hóa và các tác phẩm văn học đi trước. Các tiểu thuyết như Đêm Thánh Vô Cùng hay Online.balô không chỉ phản ánh hiện thực mà còn chứa đựng sự va đập của nhiều lớp diễn ngôn, từ Kinh Thánh, triết lý Phật giáo đến văn hóa dân gian và cả những lý thuyết phương Tây như phân tâm học. Hướng tiếp cận này giúp làm nổi bật nỗ lực cách tân không ngừng của nhà văn Nguyễn Đình Chính trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là giai đoạn tiểu thuyết sau 1975. Nó cho phép người đọc và nhà nghiên cứu khám phá chiều sâu tư tưởng, những giá trị nhân văn ẩn sau cấu trúc tự sự độc đáo và hệ thống nhân vật tiểu thuyết đa dạng, phức tạp.

1.1. Tổng quan lý thuyết liên văn bản trong nghiên cứu văn học

Lý thuyết liên văn bản (intertextuality) là một công cụ phê bình quan trọng, khẳng định không có văn bản nào tồn tại độc lập. Mỗi tác phẩm là sự hấp thụ và biến đổi của vô số văn bản trước đó, tạo thành một không gian đối thoại đa chiều. Julia Kristeva nhấn mạnh rằng văn bản là nơi giao thoa của các mã văn hóa, xã hội. Trong khi đó, Mikhail Bakhtin với khái niệm "tính đối thoại" đã đặt nền móng cho thấy ngôn ngữ luôn mang dấu ấn của người khác. Áp dụng vào phân tích tác phẩm văn học, phương pháp này giúp bóc tách các lớp trầm tích văn hóa, phát hiện những sự vay mượn, nhại lại, hoặc đối thoại ngầm với các "tiền văn bản". Điều này đặc biệt hữu ích khi phân tích các tác phẩm thuộc chủ nghĩa hậu hiện đại, nơi sự lắp ghép và trích dẫn trở thành một thủ pháp nghệ thuật chủ đạo.

1.2. Giới thiệu nhà văn Nguyễn Đình Chính và hành trình sáng tạo

Nhà văn Nguyễn Đình Chính là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam đương đại. Sáng tác của ông, đặc biệt là các tiểu thuyết, luôn thể hiện một khát vọng đổi mới mãnh liệt và một tư duy nghệ thuật sắc sảo. Các tác phẩm như tiểu thuyết Đêm Thánh Vô Cùng, Phù du cánh mỏngOnline.balô đã gây ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi. Ông không ngần ngại khai thác những vấn đề gai góc của xã hội hậu chiến, đào sâu vào thân phận con người với những ẩn ức và bi kịch nội tâm. Phong cách của Nguyễn Đình Chính là sự pha trộn giữa hiện thực trần trụi, yếu tố kỳ ảo, và những suy tư triết học, tạo nên một thế giới nghệ thuật có sự đan cài phức tạp. Chính sự phức tạp này khiến việc tiếp cận từ góc nhìn tính liên văn bản trở nên cần thiết và hiệu quả.

II. Phân tích tính đối thoại trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết

Tư duy nghệ thuật của Nguyễn Đình Chính thể hiện rõ nét qua tính đối thoại đa tầng trong tiểu thuyết của ông. Đây không phải là cuộc đối thoại một chiều mà là một trường tương tác phức tạp, nơi các diễn ngôn lịch sử, văn hóa, tôn giáo va đập và chất vấn lẫn nhau. Trong các tác phẩm, vấn đề lịch sử trong tiểu thuyết, đặc biệt là chiến tranh và thời hậu chiến, không được tái hiện như một pho sử biên niên mà được khúc xạ qua số phận cá nhân, qua những mảnh ký ức vỡ vụn. Lịch sử trở thành một văn bản mở để nhà văn đối thoại, lật lại và kiến giải theo một nhãn quan mới, giàu tính nhân bản hơn. Sự đối thoại văn hóa cũng là một đặc điểm nổi bật. Nguyễn Đình Chính khéo léo đan cài các mã văn hóa phương Đông và phương Tây, tín ngưỡng dân gian bản địa với các giáo lý tôn giáo lớn. Sự chồng xếp này tạo ra một không gian văn hóa đa chiều, phản ánh sự giao thoa và cả những xung đột trong tâm thức con người thời hiện đại. Cách tiếp cận này giúp làm rõ những đóng góp của nghiên cứu khoa học văn học vào việc hiểu sâu hơn về một tác giả dám đối mặt với những vấn đề cốt lõi của dân tộc và thời đại.

2.1. Đối thoại với lịch sử Giải thiêng và kiến giải lại quá khứ

Trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính, lịch sử không còn là một tượng đài bất biến. Ông tiếp cận vấn đề lịch sử trong tiểu thuyết bằng một cái nhìn "giải thiêng", tập trung vào bi kịch và thân phận con người sau cuộc chiến. Thay vì anh hùng ca, tác phẩm phơi bày những vết thương không bao giờ lành, những di chứng dai dẳng của chiến tranh lên cả thể xác và tinh thần. Nhân vật người lính trở về không phải là hình mẫu lý tưởng mà là những con người chật vật mưu sinh, lạc lõng, thậm chí tha hóa giữa xã hội kim tiền. Sự đối thoại này chất vấn lại những diễn ngôn chính thống, đưa ra một cách nhìn khác, đa chiều và nhân bản hơn về một giai đoạn lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy đau thương của dân tộc.

2.2. Đối thoại với tôn giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Cảm hứng tôn giáo trong văn học được Nguyễn Đình Chính khai thác một cách độc đáo. Ông đặt các giáo lý của Phật giáo, Kitô giáo trong sự tương tác và đối thoại với tín ngưỡng thờ Mẫu và các phong tục dân gian. Trong Đêm Thánh Vô Cùng, không gian linh thiêng của nhà thờ tồn tại song song với không gian huyền bí của những buổi lên đồng. Các triết lý về nghiệp báo, vô thường của Phật giáo được dùng để lý giải những bi kịch nhân sinh, trong khi tín ngưỡng bản địa lại trở thành nơi nương tựa tinh thần, một cội nguồn văn hóa giúp con người tìm lại sự cân bằng. Cuộc đối thoại liên tôn giáo này cho thấy một cái nhìn dung hợp, khẳng định sức sống mãnh liệt của văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

III. Phương pháp liên văn bản trong nghệ thuật trần thuật độc đáo

Nguyễn Đình Chính vận dụng tính liên văn bản không chỉ ở cấp độ nội dung mà còn ở các phương thức và nghệ thuật trần thuật. Tiểu thuyết của ông là một minh chứng cho sự phá vỡ các khuôn khổ thể loại truyền thống. Ông không ngần ngại lắp ghép nhiều thể loại khác nhau vào trong một tác phẩm, tạo ra một cấu trúc lai ghép (hybrid). Có thể thấy bóng dáng của du ký trong hành trình lang thang của nhân vật, màu sắc của truyện truyền kỳ, liêu trai trong những yếu tố kỳ ảo, ma mị, và kịch tính của sân khấu trong những đoạn đối thoại sắc bén. Thậm chí, các văn bản phi văn học như báo chí, âm nhạc, thư từ cũng được đưa vào, làm cho bề mặt văn bản trở nên đa thanh và phức tạp. Việc phân tích tác phẩm văn học của ông đòi hỏi người đọc phải nhận diện được sự tương tác thể loại này. Đây chính là một trong những nỗ lực cách tân quan trọng, góp phần làm mới diện mạo tiểu thuyết sau 1975 và đưa văn học Việt Nam đến gần hơn với các trào lưu thế giới, đặc biệt là chủ nghĩa hậu hiện đại.

3.1. Sự xâm nhập và tương tác của các thể loại văn học khác

Một đặc điểm nổi bật trong thi pháp học của Nguyễn Đình Chính là sự pha trộn thể loại. Trong một cuốn tiểu thuyết, người đọc có thể bắt gặp kết cấu của một truyện du ký, không khí của một truyện truyền kỳ, và tính kịch trong các màn đối thoại. Ví dụ, hành trình của bác sĩ Cần trong Đêm Thánh Vô Cùng vừa là một chuyến đi thực tế, vừa là một cuộc du hành vào cõi tâm linh. Yếu tố liêu trai, kỳ ảo với những nhân vật ma quái, những giấc mơ tiên tri... được sử dụng để khám phá những góc khuất của tâm hồn. Thủ pháp liên thể loại này làm mờ đi ranh giới quy phạm, mở rộng vô tận biên độ thể hiện của tiểu thuyết.

3.2. Lồng ghép các văn bản ngoài văn học âm nhạc báo chí

Nguyễn Đình Chính còn đưa các văn bản ngoài văn học vào tác phẩm của mình như một hình thức trích dẫn. Những bản tin báo chí, những bài hát từ dân ca quan họ đến nhạc trẻ, những lá thư, email... được lồng ghép một cách tự nhiên. Chẳng hạn, một mẩu tin trên báo có thể khởi đầu cho một mạch truyện, một câu hát cải lương có thể bộc lộ tính cách lố bịch của nhân vật. Việc này không chỉ tạo ra tính xác thực, hơi thở thời đại cho câu chuyện mà còn là một hình thức giễu nhại, phản ánh một xã hội hỗn tạp, nơi các giá trị cao cả và thấp hèn cùng tồn tại. Đây là biểu hiện rõ rệt của ảnh hưởng và tiếp nhận văn học theo tinh thần hậu hiện đại.

IV. Khám phá kết cấu và ngôn ngữ tiểu thuyết từ góc nhìn mới

Từ góc nhìn liên văn bản, kết cấu và ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính bộc lộ nhiều thử nghiệm táo bạo. Thay vì kết cấu tuyến tính truyền thống, ông thường sử dụng kết cấu lắp ghép, phân mảnh. Cốt truyện không diễn tiến theo trật tự nhân quả mà được tổ chức như những mảnh vỡ của ký ức, của các dòng ý thức đan xen, chồng chéo. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật cũng bị xáo trộn, đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại, thực và ảo. Ngôn ngữ tiểu thuyết là một hệ thống đa thanh, pha trộn giữa ngôn ngữ bác học, triết lý với ngôn ngữ đời thường, thông tục, thậm chí cả tiếng lóng, lời chửi thề. Sự đa dạng này phản ánh một hiện thực ngổn ngang, hỗn độn và một cái nhìn đa chiều về con người. Việc phân tích những yếu tố này trong một luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam cho thấy sự vận động và cách tân không ngừng của nền văn xuôi đương đại, phá vỡ các chuẩn mực cũ để tìm kiếm những hình thức biểu đạt mới.

4.1. Kỹ thuật kết cấu phân mảnh lắp ghép và dòng ý thức

Nguyễn Đình Chính thường phá vỡ cấu trúc truyện kể truyền thống. Ông sử dụng kỹ thuật lắp ghép (montage) của điện ảnh, đặt cạnh nhau những mảng truyện, những số phận tưởng chừng không liên quan. Các sự kiện được kể lại qua dòng hồi ức đứt đoạn của nhân vật tiểu thuyết, tạo nên một mê cung tự sự. Kỹ thuật dòng ý thức được vận dụng để đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, khai thác những vùng vô thức, những ám ảnh và giấc mơ. Kiểu kết cấu này đòi hỏi người đọc phải chủ động tham gia vào quá trình kiến tạo ý nghĩa, ghép nối các mảnh vỡ để hình thành một chỉnh thể.

4.2. Đặc điểm ngôn ngữ đa thanh và giọng điệu giễu nhại mỉa mai

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính là một sự pha trộn phức tạp. Bên cạnh những đoạn văn triết lý, trữ tình là lớp ngôn từ thông tục, trần trụi, "bụi bặm". Ông không ngần ngại đưa vào tác phẩm những từ ngữ vốn bị coi là "ngoài lề" văn chương. Giọng điệu chủ đạo thường là giễu nhại, mỉa mai, châm biếm sâu cay. Tiếng cười này hướng vào những thói đạo đức giả, sự tha hóa của con người trong xã hội kim tiền. Sự đa dạng về ngôn ngữ và giọng điệu tạo nên tính đa thanh, phá vỡ sự độc tôn của người trần thuật, thể hiện một cái nhìn dân chủ và đa chiều về hiện thực.

V. Luận văn thạc sĩ Khẳng định giá trị nhân văn và cách tân

Một luận văn thạc sĩ nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính từ góc nhìn liên văn bản không chỉ dừng lại ở việc phân tích kỹ thuật mà còn đi đến khẳng định những giá trị nhân văn sâu sắc. Đằng sau những thử nghiệm hình thức táo bạo là một tấm lòng đau đáu với thân phận con người. Nguyễn Đình Chính phơi bày những bi kịch, những đổ vỡ, sự tha hóa, nhưng cuối cùng vẫn hướng đến sự cứu rỗi bằng tình thương và sự thức tỉnh. Các tác phẩm của ông là lời cảnh báo về sự xói mòn các giá trị đạo đức nhưng cũng là niềm tin vào khả năng phục thiện của con người. Hướng nghiên cứu khoa học văn học này đã chứng tỏ, việc vận dụng lý thuyết hiện đại vào phân tích tác phẩm không chỉ làm mới cách tiếp cận mà còn soi chiếu sâu hơn những giá trị cốt lõi, khẳng định vị thế và đóng góp quan trọng của nhà văn trong nỗ lực cách tân nền văn học Việt Nam đương đại.

5.1. Giá trị nhân văn qua việc đào sâu vào thân phận con người

Mặc cho những yếu tố bạo lực, tính dục và sự trần trụi của hiện thực, cốt lõi trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính vẫn là tình yêu thương và sự trăn trở về con người. Ông đặc biệt quan tâm đến những con người bên lề, những số phận bất hạnh, những nạn nhân của chiến tranh và của xã hội tiêu dùng. Bằng cách đào sâu vào thế giới nội tâm, phơi bày những ẩn ức, mặc cảm và khát vọng của họ, nhà văn đã cất lên tiếng nói đồng cảm, sẻ chia. Giá trị nhân văn của tác phẩm nằm ở chính sự thấu hiểu và trân trọng con người trong những hình hài không hoàn hảo nhất.

5.2. Đóng góp của Nguyễn Đình Chính trong việc làm mới tiểu thuyết

Nguyễn Đình Chính là một trong những cây bút tiên phong trong việc làm mới thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam. Những nỗ lực của ông trong việc phá vỡ kết cấu truyền thống, lai ghép thể loại, đa dạng hóa ngôn ngữ và giọng điệu đã góp phần quan trọng vào sự vận động của tiểu thuyết sau 1975. Ông đã chứng tỏ tiểu thuyết là một thể loại mở, có khả năng dung nạp vô hạn các hình thức biểu đạt khác nhau. Việc nghiên cứu những đóng góp này không chỉ khẳng định tài năng của nhà văn mà còn cung cấp những kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sáng tác sau này.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ văn học việt nam tiểu thuyết nguyễn đình chính từ góc nhìn liên văn bản

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TIEU THUYẾT NGUYÊN ĐÌNH CHÍNH 'TRONG SỰ VẬN DONG CUA TIEU THUYET VIET NAM DUONG DAI 1. Một số điểm nỗi bật trong sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại LLL. Cé sự déi mới trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn Sự đổi mới của một nền văn học bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, trước hết là quan niệm về hiện thực. Mai Hải Oanh khẳng định: "Có thể nói, viết về "cái hôm nay”, hướng về thực tại bằng quan niệm nhìn thẳng vào sự that là cảm hứng nổi bật rong tiêu thuyết thời kì Đôi mới” [30, tr].

Hiện thực không còn "dâng sẵn, đón chờ”, cũng không thì vị hóa đời sống như trước mà ấn chứa bao phức tạp, bí Ản, đa tầng, đa tuyển và đa nghĩa, hỗn độn, rông lớn, đồi hỏi mỗi nh văn phải tự mình nghiễn ngẫm, chiêm nghiệm. Sự đổi mới này khiến hiện thực được mở rộng và được khám phá trong tính toàn diện Sự đổi thay trong quan niệm về hiện thực trước tiên nằm ở việc nhận thức lại những mảng hiện thực quen thuộc. Ở máng tài cũ như đề tài chiến tranh, đời 8 nông thôn,. người viết đi sâu khám phá, phản ánh dưới một góc nhìn mới, khách quan hơn.

Cơ sở của khuynh hướng này là những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khiến con người nhận thấy nhiều hệ giá trị, quan điểm của quá khứ cần được nhìn nhận lại. Từ đó, nhà văn có điều kiện khám phá, phơi bay những mặt khuất tối còn bĩ che khuất, lên án những tư tưởng, thôi quen đã trở nên lỗi thời, trở thành trở ngại cho công cuộc phát triển đt nước. Bằng cái nhìn nhân bản củng với độ Ti thời gian cần thiết, tiêu thuyết sau năm 1986 đã xem xết và suy ngẫm về chiến tranh trong mối tương quan với số phận từng con người để thấy được những mắt mát, dau thương ở hậu phương và cả thể hệ hậu chiến, những điễn biển tâm lí phức tạp của người lĩnh, thần phận con người. Đồ là bì kịch của người lính trở về nông thân sau khi chiến tranh kết thúc trong Bổn không chẳng (Dương Hướng); sự lăng quên một thời gian khổ, hảo hùng do choáng ngợp trước cuộc sống thời bình, dẫn tối sự chối bỏ đồng đội, chối bô chính mình trong Ấn máy đĩ văng (Chu Lai).

Không chỉ dừng lại ở mâu thuẫn giai cấp như trước, tiễu thuyết viết về đề tài người nông dân và nông thôn Tại khai thác đời sống nông thôn trong những tác động của quá trình đô thị hóa: phản ánh những xung đột, hủ tục tồn tại ở nông thôn trong Mánh đắt lắm người nhiễu ma (Nguyễn Khắc Trường), Ma làng (Trịnh Thanh Phong).; truy tìm và lí giải những bì kịch của người nông dân thời cải cách ruộng dit trong Chuyén lòng Cuội (Lê Lựu), Ba người khác (Tô Hoài). 10 Bên cạnh đó, văn học Việt Nam đương đại không chỉ chú trọng vào hai đề tài lớn là đề tài Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội như trước mà nó quan tâm hơn vào những, mảng hiện thực trước đây hẳu như bị bỏ quên. Từ đó, văn học Việt Nam đương đại hướng tới mở rộng biên độ của hiện thực, góp phần khai phá những mảng đề tải vin được coi là "nhạy cảm” như lịch sử, tỉnh dục, đồng tính, tệ quan liêu, tham những. Trong hàng loạt các tiễu thuyết lịch sử ra đời như Sông Cổn mùa lữ (Nguyễn Mông Giác), Hội thẻ (Nguyễn Quang Thân), Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh).

nhà văn đã đem đến cách nhìn mới mang đậm màu sắc cá nhân về lịch sử; mượn chuyện xưa nói chuyện nay, soi rọi trở lại những vấn để của thực tại; bộc lộ những suy tu của nhà văn về số phận con người trong sự va đập của các biến có, sự kiện lịch sử. Vain dé ban ning và tình dục được mô tả như những biểu hiện tắt yếu đời thường và nhân bản, góp phần hoàn thiện bức chân dung về con người đã có mặt trong không, ít tác phẩm như: Ngược dòng nước lĩ (Ma Văn Kháng), Đêm thánh nhân (Nguyễn Đình Chính), Ngdi (Nguyễn Bình Phuong). Hoặc mảng tiểu thu) tinh cũng được nhiều ngòi bát quan tâm. Một rhế giới không có đàn Bà, Les ~ Vòng tay không đàn ông (Bùi Anh Tắn), Song song (Vũ Đình Giang).

đã miêu tả những biến thái tâm lí tỉnh vi nhân vật, thể hiện cái nhìn đồng cảm, sẻ chia với thân phận con người. Các nhà văn như Nguyễn Bình Phuong, Phạm Thị Hoải, Ta Duy Anh, Nguyễn Đình Chính. không chỉ dừng lại ở vai trò “thu kí trung thành của thời đại” mà còn cân những "vùng thẩm mĩ” mới mẻ bằng việc đề cập đến những giấc mơ, ám ảnh. tâm lnh, qua đồ chạm đến cõi vô thức ân chìm, khuất lắp của con người.

Vì th, hiện thực không chi g6i gon trong những đi TNhững giấc mơ, âm ảnh tâm lính ong văn học Việt Nam đương đại có thể được bất gặp ở Kiên trong Nổi buổn chiến tranh (Bảo Ninh); trong Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuan Khánh), đời sống tâm linh được khắc họa sinh động qua các lễ hội Kẻ Đình, tục lên đồng, hầu đồng bay trong các tiểu thuyết nhu Thoat kj thủy (Nguyễn Bình Phuong), Gin thiéu (V8 Thi Hao), Dong séng Mia (Dao Thing), Thân thánh và bươm. Sự mở rộng trường migu tả của văn học giúp nha van tai hiện đời sống cả mặt dương bản lẫn âm bản, tiền sâu vào khám phá bản thể người, vẫy soi sự tò mò, quan tâm của độc giả Nhữ vị , có thể thấy, các nhà văn không còn bị tới buộc vào một quan niệm đơn giản, cứng nhắc về hiện thực. Hiện thực được các nhà văn đương đại đề cập không chỉ là hiện thực cách mạng, đời sống cộng đồng mà đó còn là hiện thực của đời sống hàng ngày với các mỗi quan hệ thế sự đa đoan, phức tạp. Hiện thực đó là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, khát vọng, ẫn ức, hạnh phúc lẫn bỉ kịch.

Sự thay đối trong quan niệm nghệ thuật bao giờ cũng gắn với những khám phá son người bởi văn học luôn hướng tới con người, vỉ con người mả có. Sau nấm 2 'Qua đó, có thể thấy, sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều để tải, chủ đề mới khiến văn học ngày cảng đi tới một quan niệm sâu sắc hơn về con người. Đó là con người không chỉ hiện lên với phần lí tí nh táo mà còn ấn chứa những "hỗ đen” tâm hồn, cõi vô thức, tiềm thức, tính dục. Do đó, con người trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại được hiện lên đầy đặn và phong phú hơn ‘Vai sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, các nhã văn cho rằng tiểu thuyết là "thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hinh” (Bakhtin), tiéu thuyết Việt Nam giai đoạn này đã tạo ra những bước chuyển tư duy nghệ thuật: từ tư duy sử thỉ trở về với tư duy tiêu thuyết; đồng thời với sự chuyển đổi trong cảm hứng sáng tác: từ cảm hứng lịch sử - dân tộc sang cảm hứng thể sự - đời tư.

Céc sing tic, vi thể, không cồn nhằm phát biểu chân lý đã hoàn tắt, đề cao những tư tưởng được mặc nhiên thửa nhận, khai thác con người nguyên phiến mà hướng tới khắc họa một hiện thực bề bén, chưa hoàn chỉnh, ở đó tốt xấu, trắng đen đan xen, lẫn lộn. Quan niệm này đã trả lại cho văn học diện mạo chân xác của đời sống, giúp nhà văn khám phá hiện thực đưới nhiều góc nhìn mới mê, đưa số phận con người trở thành trung tâm luận bàn của tiêu thuyết 1. Xuất hiện những cách tân về kỹ thuật tiểu thuyết Tên cạnh những đổi mới về quan niệm nghệ thuật thể hiện qua cách tiếp cặn đời sống, cách khám phá về con người và lối tư duy về thể loại th tiểu thuyết Việt 'Nam đương đại cũng có nhiễu cách tân trong kỹ thuật tiễu thuyết. Những cách tân lâm thay đối tiêu thuyết, khiển cho nó trở nên phong phú, đa dạng hơn.

Nếu tiêu thuyết Việt Nam truyền thống đề cao tuyệt đối các yếu tổ cốt truyện, kết cấu, nhân vật, diém nhin., cha trong sự toàn vẹn từ nội dung đến hình thức, ở đó, nhà văn chỉ có thể sáng tạo trong những phạm tri đã định sẵn, những giá trị đã định Inh khiến sức sáng tạo bị hạn chế thì tiêu thuyết Việt Nam đương đại phá rỡ rào cản đó, tìm cho mình những lỗi đi mới. Nếu coi "văn chương là một trò chơi vô tăm tích” (Phạm Thị Hoài) tuân theo những quy tắc, luật lệ dựa trên đặc trưng "chưa hoàn tắt hưa định hình” của tiểu thuyết và tiểu thuyết đương đại là lãnh địa nơi vang vọng “tiéng gọi của trở chơi” (M.Kundera) thì tiểu thuyết thực sự trở thành mảnh đắt rộng lớn nơi *nhà văn tự do sử dụng các thủ pháp nghệ thuật khác nhau, tiền hành các thứ nghiệm khác nhau” [30, tr 50] Biểu hiện đầu tiên của sự cách tân phái kể đến là nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng kết cắu. Sau năm 1986, với sự mở rông chiều kích của hiện thực, tiếp cân hiện thực từ những "mảnh vỡ” khiển cốt truyện có vai trò khá mỡ nhạt trong tổ chức tác phẩm. Với nỗ lực bắt phá khỏi mô hình cốt truyện sự kiện quen thuộc, các nhà văn hạn chế kiểu cốt truyện đơn tính trước đó chỉ đơn thuần xây đựng hệ thông sự kiện đơn giản, tuân theo logie nhân quả, hướng tới kế về quá trình phát triển tính cách, cuộc B đời của nhân vật chính mà phần lớn nhà văn xây dựng kiểu cốt truyện đa tuyến với nhiều mạch truyện phân nhánh thành nhiều dòng, nhiều tuyển gắn với số phận của nhiều nhân vật.

Hơn nữa, cốt truyện còn được tổ chức khá lỏng lẻo, nhiều khi không có mỡ đầu và bỏ ngô kết thúc, nhiều mạch truyện đồng thời được kê khiến cốt truyện bị phân rã, tạo nên một mê lộ giãng mắc hàng loạt ác chỉ tiết, sự kiên. Tiểu thuyết còn hỏa quyện với những yêu tổ vô thức, hồi ức, ám ảnh khiến câu chuyện không di theo mạch thời gian mà trôi chảy theo mạch tâm lí đứt ồi, ngẫu nhiên của nhân vật cùng với sự dồn nén dung lượng, giản lược nhân vật và tối giản hóa tối đa cốt truyện để hình thành nên các tiễu thuyết ngắn. Thậm chí có tiễu thuyết đường như không có cốt truyện, rơi vào tỉnh trạng phân mảnh, rồi rạc, phi logic tạo nên một thể giới ngôn ngang, b bộn mà muốn hiểu được, người đọc phải tự nhập cuộc chơi, ìm ra luật chơi và cách chơi cho riêng mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ