phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tải liệu tham khảo, phẩn Nội dung luận văn được triển khai thành 3 chương: “Chương l. Liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh - nhìn từ hệ để ti và nhân vật (Chương 2. Các hình thức liên văn bản rong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. “Chương3, Đi thoại liên văn bản trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.
CHUONG 1 LIEN VAN BAN TRONG TIEU THUYET NGUYEN XUAN KHANH. 'NHÌN TỪ HỆ ĐÈ TÀI VÀ NHÂN VẶT 1.1: Giới thuyết về tính liên văn bản và hành trình sáng tạo tiểu thuyết cũa nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.1 Về nh lên vấn bản Liên văn bản (ntetextualiy) là một khái niệm lí luận xut hiện tai phương Tay do J. Kristéva đề xuất vào mùa thụ năm 1966 trong công trình “Bakkhtin, i, đổi thoi và tiểu thuyết Nghiên cứu, giới thiệu những công tỉnh cia MM. Bakhin mã ở đồ nhà bác học Nga xây dựng một tết học về đối thoại để chống lại chủ nghĩa độc thoại, về “tính đa bội của những mung tâm - ý dhức không thể quy về một mẫu số tư tưởng he” va trình bảy nguyên tắc đổi thoại trong giao tiếp ngôn nat, J.
Kridéva đã liên tưởng tới sự "đối thoại” giữa các văn bản tong một văn bản, Trong nỗ lực đưa khái niệm liên văn bản nhằm thay thế tính chất tương liên xuit ia Bakhtin, ti6, di xa hon, Kristeva cho mỗi văn bản, Đặc trừng bản thể của văn bản là “một bức trình khảm chứa đựng cả một thiên hà các tích dẫn, bắt cứ văn bản nào cũng mang dẫu vất của sr hấp thụ và chuyển thể tử các văn bản khác”. K teva khẳng định sự chỉ phối của "một văn bản đang được sáng tạo từ những văn bản từng tồn ti trước đó, Văn bản đăng được sáng tạo chí là "sự hoán vị cũa các văn bản, một sự liên văn bản tong không gian của một văn bản được đưa ra”.S7] Ở đó, các văn bản khác cùng hiện hữu để góp phần chỉ phối và âm thay đổi điện mạo của văn bản ấy; mỗi văn "bản là một sự hap thy và chuyển thé của văn bản khác, là một tắm vải mới dệt từ những trích dẫn cũ, Xuất phát điểm của một văn bản là điều vô phương ìm kiểm, vì tt cứ văn bản nào cũng được tạo nên như một bức tranh khám chúa đựng cả một thiên hà các ích đẫn, bắt cứ văn bản nào cũng mang đấu vết của sự hấp thụ và chuyển thể từ các văn bản khác ” Rộng hơn thể, mỗi văn bản à sự hợp thành từ võ số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ, các quy ước văn học, các khuôn mẫu nhịp điệu, các hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biển trong xã hội. Phần lớn những mảnh vụn này là vô danh và có khi vĩnh viễn không ai có thể truy nguyên được x xứ của chúng. Đồ chỉ là những trích dẫn tự động, từ vô thức, và không mang "một đấu hiệu đạc biệt nào để nhận điện sự trich dẫn ấy cả.
Điều ấy có nghĩa là, sự lần tim du vét eva một văn bản, không có mục đích truy nguyên, thay vào đó, chỉ nhằm thể hiện sự liên kết chẳng chị, chồng chất của văn bản này đến văn bản khác “Trong khi miều tả tính biện chimg cia thn tai vin hoc, Kristeva cho rằng “ngoài cái thực tồn tại bên cạnh nhà nghệ sĩ, anh ta còn có quan hệ với văn học trước đó và văn học cùng tồi với mình, văn học mà anh ta luôn cũng nó đối thoại, và cuộc "đối thoại” này được hiểu như "cuộc đầu tranh của nhà văn với những hình thức văn học hiện tổn”. Không có văn bản nào là độc sắng, thực sự cỗ , một "mình một cõi, như một sự sáng tạo tuyệt đổi; văn bản nào cũng chịu sự tác động của ăn bản văn hoá, cũng chứa đựng t nhiều những cấu trú ý thức hệ và quyền lực thể hiện qua các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội. Như vậy, không dừng lại ở những văn bân văn học đơn thuần, Kristeva còn đặt tác phẩm trong mỗi ương quan với văn hóa. Bà lập luận rằng giữa văn bản văn học và văn bản văn hóa không.
hỖ có sự biệt lập mà chúng cùng xuất phát từ một nguồn chất lu và cũng có mỗi ban với nhau, Theo đó , người nghệ hi sing to du phai đối diện với cc truy thông giao iếp như với các tác giả, tác phẩm, xã hội, lịch sử và bạn đọc Su sing tao được kiểm định qua khả năng vượt thoát các rào cân đó. Không tao được cái mới có nghĩa nghệ sĩ ất bi; an tạo được cái mới thì đương nhiên vẫn chỉ là một sự tiếp nối nhất định với các truyền thẳng văn chương. Ít nhiễu, góc iếp cân này cia Kristeva dinh đáng đến lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud hing yếu tổ vô thức trong Ii thuyết của Freud thực chất là những cổ mẫu văn "hóa được lưu giữ nghn đời rong vô thức con người. Từ thực t đô, iên văn bản của Kristeva bim chit vo ngi cinh sinh thành và văn hóa cội nguồn của chúng Moi vin bin đều có cầu trúc lí tưởng trong phạm vỉ để xuất ỗi điễn ngôn đối thoại ích eực với tuy thẳng văn hóa gốc.
Khi tranh luận với các nhà lý thuyết cầu trúc, bà nêu quan điểm: “thay vì phải khoanh vũng sư chú ý của chúng ta vào giới han clu trie cia vin ban, tai sao chúng ta không thữ nghiên cứu tính chất cấu rúc ấy bắt nguồn từ đâu?" Dặt văn bản nghiền cứu vào một mạng liên văn bản rộng lớn thon bao gồm những văn bản xuất hiện từ trước cũng như những văn bản đồng dai, “của sự chuyển có căn nguyên từ những 10 ăn bản khác, động thái này đã giúp xây dựng nên một ý thuyết mạnh mẽ bảo vệ cho quan điểm của bầu ết các nhà phê bình hậu hiện dại. [Dẫn theo 58, 74] Ngoài ra, cũng cần nhắn mạnh tính thường xuyên không õ rằng của văn bản BBán chất của văn bản là mờ đục bởi chúng luôn tổn ti trong võ vẫn mỗi liên văn bản "Nếu một văn bản quá rõ đối với người đọc tỉ hoặc người đọc đó có năng lục văn hóa thấp hoặc văn bản đồ chưa đạt đến mức tuyệt phẩm. Kristeva khẳng định văn bản có sản xuất lúc nào cũng là một qu trình vận động và tương tác liền tục. Vậy nên, "nghĩa của văn bản là vô cũng tân, Mọi cách đọc văn bản đều chỉ à sự gii thích tạm, thời về nghĩa của chúng.
Văn bản Không chỉ được tạ sinh trong một môi trường vẫn hóa nhất định mà còn được cộng sinh trong qua tinh tgp xúc với cuộc sống. Mỗi thời đại, mỗi tâm thúc đều có cách cắt nghĩa khác nhau về văn bản. Nga của văn "bản được kiến tạo dựa trên sự kết hợp giữa cái nhìn “bên trong” của độc giả với cái nhìn "bên ngoài” từ sự ác động xã hội lên văn bản, Ý tröng này khơi gợi cho việc ình hành và bỗ sung những quan điểm mới mẻ của lý huyết tiếp nhận. Kristeva quy chiếu văn bản vào một biểu đỗ gồm hai trục: trục ngang ~ thể hiện sự liên kết giữa tác giả và người đọc, và trục đứng ~biểu tượng cho sự liên "một vấn bản này đến những văn bản khác, Kết hợp sự quy chiếu của cả bai trục một cách đồng thời lên một văn bản nhất định, độc giã và nhà phê bình sẽtm thấy một nguyên tắc chung: tắt cả mọi văn bản được viết và đọc đều phải lệ thuộc vào những, quy tốc đã hiện điện từ trước: “mọi văn bản ngay từ khi bắt đầu đã chịu ảnh hưởng, vã im trong phạm vì tác động của những di tình ngôn ngữ khác nhau, mà mỗi giải tình ngôn ngữ như thể, luôn luôn chịu chỉ phối bởi một vũ trụ gồm nhiều văn bin khác” (S8, 74] Julia Kristeva da iếp nhân và phát triển một cách sáng tạo với ỉnh thần dần chủ quan diém về ngôn ngi hoc cia Ferdinand de Saussure vi nhit là tư tưởng đối thoai cia M.
Bakhtin, Déng vai tr là người tiên phong, đặt nn móng, xây dựng "một lý thuyết hoàn chỉnh và đặc biệt, biện luôn cho vai trở của nồ trong hoạt động phê bình văn học hậu hiện đại, quan niệm về tính liên văn bản của Julia Krieva nhanh chồng nhận được sự đồng tình của nhiều triết gia lớn, những người sẽ tiếp nhận, khai triển khái niệm tính liên văn bản theo nhiều hướng khác nhau, mở rộng nội hàm của nó. Từ những nhà lý luận thuộc chủ nghĩa cấu trúc cho đến những lý " thuyết gia hâu cấu trúc nby AJ.déu dinh méi quan tim đến lý thuyết liên văn bản. Mỗi người có những trường nhìn khác nhau, cách gii thích khác nhau, nhưng tựu trung hạ có hai khuynh hướng chính dẫn giải: một bên văn bản như thủ pháp tổ chức văn "bản; một bén lign van bản được hiểu như là thuộc tỉnh bản thể của mọi văn bản. “Chính sự phong phú, phức tạp của nội hàm khái niệm liên văn bản dẫn đến những cách thúc tiếp cận liền văn bản khác nhau Từ tưởng về liên văn bản đã được manh nha từ lý thuyết giải cấu trúc do 1 Derrida khởi xướng, với những nghiên cứu về tinh bát ổn về nghĩa của ngôn từ, của.
ký hiệu và sư phủ định ý niệm về tổn tại bắt di dịch của cái goi là Tuyệt đối, Trung âm hay Thần ngôn, Nó cũng hoà đi với tư tưởng của ác lý thuyết gia hậu hiện đại nhưJ. L,yotard khi họ đập vỡ ảo tưởng vẻ vị thể chân lý của cái chỉnh thể đề xây. dựng nên tiết học đa bội làm chỗ dua cho nhận thức về trang thái phi tt tự hay "hỗn độn của thé giới và cho cuộc đầu tranh chồng lại chủ nghĩa toàn trị. Foueaul, nhà sử họ, xã hội học Pháp để xuất mỗi quan hệ giữa chủ thể và diễn ngôn, Ông khẳng định «ng tác phẩm không phải là cái vật mang tư tưởng Tiếng của cá nhân nhà văn.
Bởi vì con người với tư cách là chủ thể của diễn ngôn là ddo diễn ngôn tạo ra. Quan niệm này cũng giống như tư tưởng của K. lung, người chủ trương văn học do vô thức tập th tạo nên, Điều đó có nghĩa: nhiều người cùng đọc một cuốn sích nhưng mỗi người sẽ có một cuốn cho riêng mình KẾ thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước, đến lượt mình, nhà nghiên cứu người Pháp G. Genette trong cuỗn Palimpsestes: La litératre au second degré (Palimpseste: văn học bậc nhì) xuất bản năm 1982 đã biển khái niệm tính liên văn bản thành tính xuyên văn bản (tamstexualit ), một khát niệm khá Tông, thâu tôm cả năm khái niệm khác nhỏ hơn: 1.