phần Mở đầu, Kết luôn, Tài liệu tham háo, luận văn gồm có ba chương: Chương Ì. Đặc trưng thấm mĩ của thơ Việt Nam sau 1986 và hiện tương Nguyễn Bình Phương Chương2. Thơ Nguyễn Bình Phương ~ Tư duy nghệ thuật mang tính đổi thoại Chương3. Thơ Nguyễn Bình Phương ~ Tương tác iữa các mã hình thức biểu 8 CHUONG 1.
DAC TRUNG THAM MI CUA THƠ VIỆT NAM SAU 1986 VA HIEN TƯỢNG NGUYÊN BÌNH PHƯƠNG 1.Thơ Việt Nam sau 1986 - những tìm tòi từ tư duy nghệ thuật đến kĩ thuật viết 1. Đào sâu vào bản thểcủa c “Tho ca là cuộc đối thoại của con người với thời đại mình”. Trong suốt 30 năm chiến tranh liên miên giặc gia, thơ ca Việt Nam đã thang trim cùng số phận dân tộc "ngân ngn hát “bè cao” giữa những âm vang sống động, bỉ hùng của lịch sử. Đó là cảm hứng sử thì với thiên “đại tự sự” hùng hồn, là tiếng nói công dân nhân danh vì cộng.
đồng khi gắn số phận cá nhân với vận mệnh chung của dân tộc. Từ sau chiến tranh, cuộc sống trở về với nhịp sống đời thường, dưới bầu sinh quyển của không khí hòa. bình là những đợt sóng dậy trào từ bên trong với đan xen, chồng chất những bộn bề ccủa cuộc sống mưu sinh. Chưa bao giờ như bây giờ - sau năm 1986, để hòa cùng dòng chảy thơ ca thể giới cũng như đối điện với đời sống hiện thực thậm phén, thơ ca Việt 'Nam cần đổi mới như một sự cần thiết để tồn tại.
Đã thể, giữa những ngỗn ngang của đời sống thể sự, được cắp “tấm căn cước” dân chủ trong thời đại mới, con người trong, tư cách xác tín quyền tồn tại, khẳng định nhân vi đã nêu cao nhu cầu được nói tiếng. nói tự thân của thể phận, được bứt phá để kêu lên tiếng kêu khản đặc, quyết liệt của ban thé. Cùng với đó, phát hiện mang tính nhân loại của Freud về phân tâm học để sau đó là sự phát tin của C. Jung về vô thức, tiềm thức trong cơ cấu tỉnh thần của con người đã mở ra cho văn học lối "thăm dò tiềm thúc” vào “vùng tối”, khoảng mờ của đổi sống tâm linh.
Thay vì hướng ngồi bút vào việc phân ánh hiện thực với cái tôi hướng ngoại để trí nhận những mặt nỗi của đời sống, thơ ca đương dại hướngd đảo sâu vào cái tôi như cuộc thăm dò vào “miễn đất lạ" én chim dé khám phá đến tận cùng vẻ đủ đầy của hiện thực sống. Do đó, nỗ lực khám phá sự phong phú của “cai tôi ẩn giấu", dám phơi bày những bì kịch nhân sinh là những biểu hiện rõ nét cho sự đổi mới tư duy của nền thơ Việt Nam hiện đại. Giữa những cuộc tranh luận đổi mới thơ và dư luận đang đặt ra nghỉ vẫn cho vẫn để này: đổi mới hay sự xiếc ngôn tử, đó là tiếng kêu nhân văn của bản thể hay là những nhu cầu nhục cảm rất đời mà thiếu chất thơ. Trong khi dư luận còn đang từng, bước trí nhận, làm quen, một số khác thì phản ứng ngược lại thâm chí là gay gắt thì các nhà thơ đương đại vẫn không ngừng tìm kiểm một nguồn sống mới, khai thác sâu 'hơn vào những ting via của đời sống tâmlinh, vô thức, những ẩn ức khuất chìm trong vùng tối của bản năng sng, bản năng người.
Mặc cảm bị "thiển hoạn” đã được giải toả, con người hướng đến những giá trị có tính phổ quát của giống loài nhằm bù đắp. phần thiểu hụt vẫn luôn âm ¡ trong vũng tối của tiềm thức, vô thức. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức phản tư, tâm linh, tỉnh dục, nữ quyền, ngoại vi,. như là sự bổ khuyết làm nên hiện thực toàn nguyên của thể sự.
Đời sống thỉ ca trở nên dày dặn khi chứng, kiến đủ đầy sự hiện diện của muôn mặt đời sống cũng như phần bí ấn khuất lắp tận sâu 9 đời sống bên trong của con người. Thơ ca đương đại vì thế ngày càng gần với cuộc đời hơn, gần với tâm sự buồn vui của con người, thơ nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói của thân phận Voi vận động không ngừng cho hành trình cách tân, thơ Việt Nam sau 1975, bên cạnh những nhà thơ có mặt từ trước đó trong hai cuộc kháng chiến là sự nở rộ của hàng loạt các tác giả xuất hiện thuộc thế hệ đầu tiên của thời bình. Mỗi người một long điệu, một tiếng nói riêng đã hợp tấu cho dàn nhạc thơ đương đại những sắc điện mới lạ, độc đáo. Điểm gặp gỡ của các nhà thơ hiện đại đó chính là "bằng sự dồn nén, bức xúc của tâm trạng bật đây trong họ những câu thơ không chịu bằng phẳng và sự chuyển tải của những nỗi niềm, những ẩn ức đang còn khuất lắp trong tâm hồn” (Nguyễn Việt Chiến).
Các nhà thơ viết bằng vốn sống, trải nghiệm của chính mình, cất tiếng nói khát đồi chân thành của bản thể, viết như một sự thực hành sống một cách đủ đầy, ven toàn, th thiết. Mười ngón tay xòe ra/ bưng lấy khuôn mặt bé xíu/ứng lên vì vui lần đầu tiêu/em.khóc nưng mức/ nước mắt tràn ngập khắp thân thé/ trong giây phút tận hiền/ Đau chiếc khăn thắm màu trình tiết Mẹ Nữ Oa (Hop nhdt ~ Nguyệt Phạm). Cùng với đó, sự trỗi dây bản thể trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên, Dư Thị Hoàn, Vi Thủy Linh. đã thể hiện ý thức cá nhân tự do tuyệt đối dám khẳng định quyển bản thể mà văn học một thời còn dè đặt, né tránh.
Những bản năng khát thèm được bộc bạch đến tân cùng như sóng trio bão dữ. Như một người "dệt tẩm gai” nhẫn nại dan dệt những cảm xúc, Vì Thủy Linh dâng nỗi "Khát" cháy đâm thắng vào rừng râm thi ca chấp nhận trầy xước, rớm máu bởi những nỗi đau vô hình trong thể giới nghệ thuật và hữu hình tong tình yêu trần thể: Không kỳ vọng những điều lớn lao/ Em lăng l đột kạnh phúc từ những nỗi buỗn - những sợi tầm gai - không ai nhìn thdy/ Gai tdm gat đâm em đau đăn/Em chở Anh mãi.Tưởng chừng không thể vượt qua nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước (Dột tầm gai). Đặc biệt, nhiều trường phái triết học phương Tây du nhập vào Việt Nam trong đó có chủ nghĩa hiện sinh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác văn học mà đặc biệt là tác phẩm của các nhà thơ nữ, khiến cho không ít nhà thơ phải tự nhìn lại mình. Lâm Thị Mỹ Da với khát vọng đi tìm cái tôi bản thể đã biến thành mộng mi: Bém qua/ Tôi mơ thành tôi Tôi mơ thành chim/ Tôi sơ thành giắc mơ (ĐỀ tăng một giác mơ); Phan Huyền Thư trong Seo độc lập luôn đi ""ìm tên tôi”, đi "nhặt lại tên mình” ở mọi ngóc ngách của cuộc đời để khẳng định sự hiện hữu của mình như một nhân vị: Tới tim tén t6i/ Trong đám giấy lộn Trên bàn nhậu và góc va hé./ Toi thẫn thở đã nhật lại tén minh/ Lay lt trên những con đường ong lan, phố vắng (Hoang mang).
Va một Ly Hoàng Ly tìm đến đêm như một nơi trú ngụ của tâm hẳn đễ trải mình mà nhận thấy nỗi đau trần thể: Những hỗn loạn của ban ngày/ Đên không bắt được/ Những nỗi lòng như sông uẫn khúc/ Chỉ chảy được về đêm (Sóng đêm). Cũng với đó, trong đời sống hiện đại, giữa hỗn mang của cuộc sống bắt toàn, một số nhà thơ nguyện “lộn trấi” mình để phơi diễn tận cũng nỗi đau của bản thể, Hiện 10 thực được nói tới trong thơ vì thể không còn là hiện thực được nhìn thấy mà là hiện thực của việc tự thấy ~ cảm thấy thâm chí là “nhập - thấy” (Đăng Đình Hưng). Sự phát triển của chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa tượng trưng trong nền văn học thể giới đã dẫn lỗi cho các nhà thơ phương thức "trôi dạt, "đò tìm” vào tận cùng đời sống của "bản thể với vùng mở tâm linh bí én. Tho Nguyễn Lương Ngọc cảng ở những tập thơ sau, tính siêu thực, mơ hồ trong thì giới cảng trở nên dày đặc, đấy là bởi nhà thơ nhận thấy trong thể giới của cái tôi tự tri nhận v nó là cả một chiéu sâu tăm tối, mù mờ, khó nắm bắt: Mơ, mơ/ Chân đâu/ Mình đâu/ Buôn tiên cảm hát chân câu luau thiy (điên cảm).
Dương Kiều Minh phục sinh một vườn cổ tích của tuổi thơ, mẹ, quê hương với một điệu buồn mang màu hoài niệm, nỗi buồn tự cảm: Màu xanh rừng rức đậy buôn (Bộc bạch IV), Khát vọng/ mang vạm vỡ nỗi budn (trémpet) đồng thời còn bộc lô nỗi khát vọng tự do đến cháy bông: Cơn khát sự do/ Tụ do nhưc nắng/ Tự do cơn sưa cuốn chạy trên đông (Cổ tích). Nguyễn Quang Thiều trong tư duy phục dựng văn hóa chủa làng, sông Đáy đã nương dựa vào đấy như miền hiện thực giữa cõi tạm để suy tưởng về thể giới ẩn huyền, đảm chất tâm linh. Đó là cái tôi bị lay thức bởi tâm thức cộng đồng: Tối đứng trên con đường cuối làng khóc run lên như đứa trẻ mắt mẹ. Tôi làm sao lật hắt từng lá có trên đất đai rộng lớn nhường lúa, dé tim lại những người đàn bà géa bụa.(Những ví dụ); với một nỗi dự cảm ám ảnh về nơi đến của linh "hồn trong niềm hân hoan đủ đầy hình ảnh, thanh âm của cõi mê: CỔ xe tang trói mãi vào cơn mê/ Những con rằng gỗ váy vàng bay lén trong tiéng kèn, tiếng trắng, (Âm nhạc) i u hóa mạnh mẽ, con người cảng có nguy cơ đánh mắt mình.
Vì vậy, vấn để bản ngã cá nhân - cái tôi bản thể hơn bao giờ hết được coi trọng trong thơ mang cảm quan của con người hiện đại với nỖ lực tìm kiếm, gìn giữ bản ngã trong một thế giới bắt toàn, phi lí. Nguyễn Bình Phương chủ trương lối thơ phiêu vào cõi khác của miền tâm thức, cõi vô thức siêu hình mà trì nhận tận tùng bản thể của cái tôi. Thể giới thơ của Nguyễn Bình Phương vì thể luôn chứa sự ám gợi bởi màusắc rờn rợn của cái mor , huyễn ảo, của một tâm trạng gì đó không nắm bắt được. Bởi nhà thơ quan niệmt “hồn của con người có thé nào đễ hiểu, nó luôn chứa một “vùng mt ái gì đ thoắt qua ơn tuột như vệt lân tính, khi êm nhẹ như bước chuyển di của con rmèo trong đêm tối, cả cái vụt sáng giữa khoảng u mình “sắng nào với tới được”.