mở đầu bằng câu bất hủ *Mọi con người đều được phú cho lí trí và lương. Và kết quả là năm 1948, ba năm sau diễn từ của Sarte, hai năm sau lời bắt hủ của Heidegger, nhân loại hân hoan với “Tuyên ngôn phổ quát về nhân quyền”. Rồ rằng trên con đường thăng trầm của thuyết nhân bản, nhân loại mang theo “tâm thức hiện sinh” như hành trang. Hành trang ấy khiến chúng ta không ngừng suy nghĩ về con người trong mọi cảnh huỗng và thấu hiểu con người với mọi cảnh trạng.
Như vậy những nguồn cơn lâm cho nha văn thành hiện sinh lä vì họ sống bằng hiện sinh trong một thời đại cần đến ý thức hiện sinh. Hay nói cách khác tâm thức hiện sinh dù ít dù nhiều thể hiện qua các trang tiểu thuyết đều thể hiện một lối ta duy cốt lõi của hiện sinh: tư duy tiểu thuyết “nhãn bản”. Tư duy nhân bản ấy thể biện rõ nết qua những ám ảnh ray rút hiện sinh, với bành trình khao khát dần thân di tìm bản ngã, luân í nhưng trên hành trình ấy con người lại gặp những điều bắt trắc, phí lí nên luôn cảm thấy cô đơn, bơ vơ, lạc loài và lúc nào cũng mang cảm thức sợ “bị bỏ rơi” và bị ám ảnh bởi cái chết trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Cũng tư cđuy nhân bản ấy Nguyễn Danh Lam lại xoáy sâu vio nỗi cô đơn tuyệt đối của con người với sự ph lí, lo âu, vong thân trong tiểu thuyết Giữu dòng chéy lac.
Tác phim Tạ Duy Anh, nhất là Đi rìm nhân vật và Thién thdn stim hồi lại chạm được tới vấn đề nội him nhất của nhân bản là con người cá nhãn và sự thức nhận về cá nhân, từ đó cảm nhận rõ nét về sự vong bản, tha hóa trong một hiện thực đẩy nghiệt ngã và nỗi hoang mang về kiếp người. Tiểu thuyết ở xám của Vũ Đình Giang góp thêm sự thấu hiểu day tính nhân bản về mối quan hệ giữa người và người trong. cuộc sống dang bi bing hoá đến lạnh làng khi tha nhân sẵn sang biển nhau thinh con mỗi. Nhà văn Thuận với tiểu thụ) Từ Chinatown dén Van Vy giip ching ta nhận ra sự cô đơn đến cùng cục, ph lí của con người ngay trong gia đình, ngay giữa xã hội người rất phồn thịnh.
Đoàn Minh Phượng với những trang tiểu thuyết của. mình một lần nữa phác họa thành công chân dung con người cô đơn của con người trong xã hội đương đại trên con đường tìm kiếm bản thể, sự lạc loài của phân người tha hương. Phạm Thị Hoài với tiểu thuyết 7hiền sứ đã thức tỉnh con người về một hành trình hiện sinh đầy ý nghĩa với ý thức về bản thân mình rằng sống trước hết phải có sinh khí nếu không con người sẽ chẳng khác gì với sự tổn tại của đồ vật Khuynh hướng tiểu thuyết hiện sinh trong văn học Việt Nam đầu thể kỉ XI đã thể hiện một lỗi tr duy đầy nhân bản khi đặt con người vào vị trí trung tâm, Với tiêu thuyết hiện sinh, các nhà văn gặp gỡ nhau ở ý thức kiếm tìm bảnthể, hướng § câu hỏi “Con người, anh là ai?”. lý do tỉnh thần hiện sinh trong tiểu thuyết đầu thể kỉ XXI được thể hiện đâm đặc ở cảm thức hư vô, ở những thân xác, hiên tồn bị quãng quật ngẫu nhiên vào đồi sống và chỉ tổn tai nhờ vào những ý muốn tổn tại của chính nó.
Nồi loạn, dần thân kiếm tìm tự do, chìm đắm trong nỗi cô đơn bản thể với những cái chết tượng trưng, những chắn thương tỉnh thin, thé xác. trở tành phản ứng của con người trước một thực tại đơn điệu, trồng rỗng, thiếu vắng những điểm tựa tinh thần. Con người vì thé lạc lõng, cô đơn giữa một thế giới phẳng. Con người khước từ, đánh mắt sự hiện hữu để dẫn thân vào hành trình truy tìm bản thể.
Ngay từ giữa thể kỉ XX, trết học hiện sinh đã hiện điện cùng với đó văn học hiện sinh đã có mặt ở Việt Nam (chủ yếu ở miễn Nam) cùng những tác phẩm gắn với những tên tuổi lớn như Soren Kierkegaard, Friedrich Nietzsche, Jean Paul Sartre, Simon de Bauvoir, Albert Camus. Tuy vay, tinh thin hign sinh, quan niệm hiện sinh chỉ thật sự bùng nổ trong văn học Việt Nam kể từ đầu thế kỉ XI, cùng với sự phì đại của hi thực, của kĩ nghệ, khiến con người bị “máy hóa” và ngày càng trở nên *vô danh” trước đời sống. Chủ nghĩa hiện sinh với các quan niệm. về tính chủ thể, về tự do, sự phi lí, về sự dấn thân, ni loạn.
ỏ ra phủ hợp để lí giải và nhân diện con người hậu hiện đại. Trong một ế giới đa trí, hỗn độn, bấ toàn với các chân giá trị bị đảo lộn thì có lề lối tư duy nhân bản phủ hợp với tằm đón đợi của đọc giả hơn hết thảy. Bởi lề khi con người đối diện với những hoài nghỉ về sự hiện diện đúng nghĩa con người thì yếu tố nhân bản là điểm tựa có chiều sâu tỉnh thần giúp con người có khả năng “dự phóng”. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ~ xác lập vị trí trung tâm của con người Nguyên tắc đầu tiên của hiện sinh là "son người không là gỉ khác ngoài những gì mà nó tự tạo nên” [30, tr.
Đó là lí do Heidegger dùng khái niệm "thực tại — người” để gọi "con ~ người”. Con người theo quan niệm của người hiện sinh, nếu không thể định nghĩa được, chính là vì trước hết là hư vô. Con người chỉ tồn tại sau đồ, vây cội nguồn của tỉnh thần hiện sinh nằm ở những trăn trở về sự hiện hữu của con người. Văn học hiện sinh không ngừng truy tìm bản thể để xác lập được nhân vị giữa cuộc đời.
Trong dòng chảy của tiêu thuyết hiện sinh Việt Nam đầu thế ki XI, Nguyễn Bình Phương đã tạo được dòng riêng của mình khi xoáy sâu vào nhân vị. VỀ cơ bản, những trang tiểu thuyết của nhà văn truy tìm ý nghĩa tổn tai của con người trong mỗi khoảnh khắc hiện hữu. Nhân vị chứng thực cuộc đồi phỉ lí nghiệt ngã Hiện sinh rắt coi trọng khái niệm Dasein để nhắn mạnh rằng “con người hiện hữu như một hiện diện” [15, tr351]. Chính sự hiện hữu của con người cho phép con người làm xuất hiện môi trường sinh hoạt của mình.
Khi đó con người sẽ một "hữu- tại - thế (In - đer- Welt- sein) [I5, tr 355], tức là con người hiện hữu là hiện diện với thể giới, để làm cho thể giới đó đối diện với mình. Làm cho nó thành "môi trường hiện hữu của mình” [15. Như vậy con người chính là mỉnh chứng sống động nhất, cụ thể nhất để chứng thục bản chất môi trường hiện hữu của mình. “Cụ thể hơn nữa chính là thân phận con người như thể nào thì cuộc đời như th đó.
“Một cuộc đời không suy xét thì không ding sing" (Socrates). Thue vậy thân phận con người không nằm ngoài sự âu lo vậy cuộc đời của mỗi người chúng ta có -ý nghĩa gì đó hay không? Cuộc đồi vì thé tro nén phi li, phi Ii đến nghiệt ngã. Con người nhận ra “Moi sw vat déu phi li” day không phải là tiếng kêu phẫn uất về cuộc đời mà là một nỗi cay đắng âm thầm phát sinh từ trực giác về sự hiện hữu của sự vật, Vậy nên sống cho tận cùng con người phải có sự nỗi loạn. Đó là "sự nỗi loạn có mục đích chống lại sự phi lí” (Cammas), là sự nỗi loạn của cá nhân có.
hình và vô nguyên tắc, đó là sự thách thức của con người trước mọi cái phi lí trong đời. Dù con người bị biển dạng như trong sự phi lí của cuộc sống hay con người hiện hữu trong sự tột cùng của sự va chạm thì con người vẫn là hình ảnh trung tim ccủa cuộc sống Tác phẩm của Nguyễn Bình Phương đã chứng thực một cuộc đời phi lí đến nghiệt ngã khi khắc họa những thân phân người trải nghiệm đến tân cùng mọi nghiệt ngã của kiếp người. Tiểu thuyết ảo cõi là diện mạo về xã hội đầy rẫy bất công và tội lỗi. Ở đó, mỗi khiếp người bất hạnh theo một cách khác nhau.
Sáu nhãn vật: tôi, hến, mụ Đông, Vang, Vọng và Tuấn là sắu câu chuyện khác nhau được thé B hiện đồng loạt trên trang giấy. Các nhân vật đều khiến người đọc không khỏi xót xa Một mặt, những con người Ấy bị những ám ảnh trong quá khứ dày vò. Mặt khác, hiện thực tăm tối và đầy bể tắc lại “bức tử” tâm hồn họ lẫn nữa. Buông xuôi tất cả, các nhân vật để mặc cho số phân xoay vẫn.
Câu chuyện của mỗi nhân vật tuy dài, ngắn khác nhau, nhưng khó có thể đặt các nhân vật lên bản cân để cân dong xem ai ‘quan trong hơn ai. Sự khuyết thiếu của bắt kì nhân vật nào cũng có thể làm giảm đỉ giá trị của tác phẩm. ảo cõi là bức tranh phản ánh hiện thực xã hội thông qua cầu chuyện của nhiễu kiếp người. Những bộ mặt giả dối, những "trò diễn” trong mồi cquan hệ giữa người với người đều được Nguyễn Bình Phương phơi bày trên trang giấy một các không giấu diếm.
Qua đó, tác giả muốn người đọc có một cái nhìn thẳng thắn vào những góc khuất của hiện thực xã hội. Cõi người trong Vao cõi là một thể giới đầy hỗn đôn. Tiêu thuyết Những đứa (rẻ chắt giả lại khám phá cuộc đời của những con người có cảnh sống éo le, đồng thời đặt ra câu hỏi đường như không bao giờ cũ về sự tồn tại, cái hữu hạn của đời người trong thời gian vô hạn Mỗi nhân vật đã thực hiện những cuộc hành trình cuối cùng chi để kết liễu, thanh toda, tri og nhau. Gần hai mươi con người gấp nhau trong một màn bi hồi kịch do chính họ tạo nên.
Cái cuối cùng còn lại chỉ là thù bận, tiếc nuối, tan nát, rệu rã, đắng cay, suy sụp, bảng hoàng, tủi nhục và câm lặng. Đó cũng chính là cách mà Nguyễn Bình Phương đã tạo ra dé người doc tim thấy cảm giác về hiện thực đổ nát. Ngồi “cũng là cuốn tiểu thuyết khắc họa thành công hiện thực phi í nghiệt ngã qua những thân phân người. Từ cái nền một xã hội được nhà văn khắc rõ tính chất hỗn loạn và mê vọng, từ sự sa đọa đến bệnh hoạn của hầu hết con người trong tác phẩm.
Ngoài Khẩn, những Minh, Hùng, Liên, Thúy, lão Liệt, Thai, Nhung, Nghia, Van, Kim, Hoang Lan, Quân. là dại diện sinh động cho cuộc vong thân vì tỉnh ái, vì đồng, tiền, tong đó lộ rõ chuyện ngoại tỉnh, sống thữ, g viên hú hóa, công chức biển chất. ừ đó chứng thực một xã hội thác loạn.