phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương: Chương Ì: Diễm nhn và kết cầu trần thuật trong truyền của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Chương 2: Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện của Nguyễn Thị Thuy Vũ. Chương 3: Ngôn ngữ va giong điệu trần thuật trong truyện của NguyễnThị Thuy Vũ CHUONG 1 DIEM NHIN VA KET CAU TRAN THUAT TRONG TRUYEN CUA NGUYEN THỊ THỤY VŨ 1. Diém nhin trần thuật “Trong tác phẩm tự sự, điểm nhìn giữ vai trỏ thiết yếu trong mỗi tương quan giữa vị thể của chủ thể trần thuật với các yếu tổ nghệ thuật khác.
Điêm nhìn là phương tiên xấc định cho sư ôn tại của người trần thuật trong khung ngữ cảnh cũa truyện kẻ, Theo đấy, trong cấu trúc văn bản nghệ thuật, điểm nhìn được xem là *sự lựa chọn cự ly trần thuật nào đỏ loại trừ sự can thiệp của tác giá vào các sự kiện được miều tả và cho phép văn xuôi trở nên "tự nhiên‡n" hơn, phủ hợp với cuộc sống hơn”. Tác giá có mặt ở khắp nơi, nhưng lại không có ở nơi nào cả, không ai nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh toàn năng giống như Thượng Để vậy. Tác phẩm không kể lại mà chỉ ra cho thấy” [8, tr. 61] Như thế, điểm nhìn trần thuật được hiễu là yếu tổ quan trọng trong biểu hiện tư duy nghệ thuật của nha văn, góp phần thể hiện chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm và đem lai cho bạn đọc những tằm đón nhận mới.
Điễm nhìn bên ngoài, người kế chuyện dn mình ngôi thứ ba ‘Voi kĩ thuật xử lí điểm nhìn bên ngoài, người trằn thuật đã xây dựng góc nhìn ở một khoảng cách vừa đủ với đối tượng miêu tả. Lúc này, người kể chuyện hướng cho mạch truyện kể theo sát những biển cổ, sự kiện của đời sống xã hội cũng như diễn biến của số phận nhân vật trong tác phẩm. Hiểu một cách khác, người kể chuyện gián tiếp ở ngôi thứ ba để bao quát hết thảy moi diễn biến của truyện kể. Mặc dù chủ thể trần thuật không xuất hiện trực tiếp và chỉ giữ vai trò là người quan sát, chứng kiến nhưng trước sau câu chuyện vẫn được kể lại từ điểm nhìn của anh ta Khảo sát truyện của Nguyễn Thị Thuy Vũ, chúng tôi thấy nhà văn sử dụng điểm nhìn bên ngoài ngôi thứ ba khá rõ nét và đậm đặc.
Có nghĩa, người kể chuyện chọn sóc quan sát, cự ly giãn cách — một khoảng cách nhất định để diễn giải cho mọi hoạt động của nhân vật. Trong Trôi sông, người kể chuyện giới thiệu một cách khái quát về nhân vật Tư: “Lão là một thứ thợ xà bằn. Công lão thường bằng vài xị rượu đễ, một chút đồ nhậu, chút đính tiền nong, ăn một bữa gid, dự một đám thôi nôi. Lão là một tên phụ lục lội suốt ngày bầu bạn với cây chỗi Tàu cau, cái xéng” 35, tr 12].
Người kể chuyện, không những giới thiệu về nhân vật lão Tư mà còn thể hiện niềm trắc ẳn xót thương một đời thăng trầm đối với nhân vật “Nhưng lão làm sao có thể quên ngày hiển hách nhất đời lão - ngày quan trì phủ lấy đứa con gái độc nhất của ông về làm vợ thứ tám. Cũng bắt đầu từ đó lão đoạn tuyệt làm phu quét dọn” [35, tr 13]. Dòng đời con người thiên biển van hóa, có lúc sướng, lúc khổ. Chính vì vậy mà lão Tư luôn hoài vọng, tiếc nuối quá khứ một thời vinh hiễn.
Bên cạnh đó, người kể chuyện đã ấn mình vào trong xúc cảm của nhân vật, để thể nghiệm những chuyển biến tỉnh tế, nhạy cảm trong tim hồn âu kún được bộc bạch cụ thé: “eng con trăng cuối năm như đêm may, lão ngồi bên thằm lẫm lúa của quan trì phù bên cạnh chai rượu Mai Quế Lộ của con gái lão cấp nắp đem về cho lão. Lão ngồi xếp bằng trên chỉ chiếu manh nhâm nhĩ "mi ng thịt heo rừng nướng. Đứa con gái đầu ngồi trên chiế cđôn sành trước mặt lão ước lóng mia Tây vàng ôi, tiếng nhai mía in giã vài giọt nước từ trên mép đứa con gái bắn lên cỗ lão. Lão cằm ly nốc thêm chút rượu nữa rồi gật gà nhị lâu vào mắt con.
Lão dư biết con gái ão đang độ thèm chua ngọt. Nhưng chẳng mắy thắng ba vo thir tư của ông phủ và con gái lão xâu nhau đắm đá vì những cơn ghen tuông vặt khi ông phủ bản ngồi che di gp lúa ruộng miệt Trì Bang, Hóc Hỏa. Và từ đồ đến khi quan trí phủ qua đời, lão Tư vẫn chưa có mụn cháu nào để nững nậu vì lần du đã đó, cô con gái sảy thai" [3S, tr 16,7]. Người kể chuyên đã hóa thân vào nhân vật đễ mà thấu hiểu nỗi khổ tâm trong tâm trí lão Tư.
Cũng là đêm trăng hôm nay, gợi cho lão về với kí ức dđêm trăng xa xưa của lão cũng cô con gái độc nhất. Con gãi lo một đồi truân chuyên, chung chồng theo quan niềm xưa cũ “tri năm thể bảy thiếp". Chính quan niệm sỗ hũ ấy đã đấy bà vợ thứ tư cũa ông phũ đánh ghen để giữ địa vị hoặc để được yêu thương trọn vẹn. Cuộc âu đã của bà phủ đã cướp di giọt máu mà con gái lão mang trong minh dé kết nối hạnh phúc với ông phủ.
Đó là nỗi đau mắt mát tổn thương nhất trong lòng ão, để lão luôn xót xa, âu lo cho số phân của con gái. Qua đó cũng th hiện được nỗi lòng đau đầu của nhà văn với số phận của người phụ nữ thời xưa. Khó lòng thuận hòa khi người phụ nữ lấy chẳng chung dưới một mấi nhà, ghen trông cũng thường tỉnh. Bởi không ai trong số họ không muốn san năm sẻ bảy tỉnh cảm ân ái vợ chẳng.
Chỉ có nữ văn sĩ trần trọng đồng cảm cho giới nữ mới viết sâu sắc đến như vậy. Truyện ngắn Củo trộn gis kinh thiên, từ điêm nhìn ngoại quan, người kể chuyên chi dimg ở một góc để mà quan sắt, doi theo phúc cảm dan tei, bi xộc đời của nhân vật. Đồng, Nguyệt đều có học cũng lao vào vòng xoáy sống vội, sống gấp trên son đường hạnh phúe. Đồng là một kẻ tật nguyễn về mắt, vì mặc cảm khiêm khuyết của bản thân đã lao vào yêu Nguyệt vội vã.
Còn Nguyệt một cô gái mặc cảm nghèo dõi, bị tỉnh phụ bỏ hiển đăng cho Đồng dé tr thủ dời. Hai con người sống trong góc phố từ đỗ tường: gái, rượu, cờ bạc, thuốc phiện. Cũng sự hào nhoáng của lính Mỹ tại chiến tranh miền Nam. Cô đã phụ tỉnh Đồng đi theo người con trai Mỹ, Nguyệt qua dđêm ở biệt thư giàu sng ấy với Bob.
Chính đồng tiền, cô không có tỉnh yêu khi sống é ng. Để anh phải gục ngã, khổ dau hết một đời. Cuộc sống này mọi thứ đều vân động và biến đổi không ngừng. Con người cũng vây, ai rồi cũng sẽ khác.
Thể giới tỉnh yêu là góc khuất va chắn trong tinh thân. Vì vấy Đồng không thể giữ Nguyệt bên cạnh, bởi tái tìm cô chưa bao giờ thuộc vé anh. Khi mi gia tri vitchất lên ngôi, con người bị cuỗn hút ngụp lặn trong vinh hoa thì cũng là le tắt cả mọi chân giá trị của hạnh phúc bị biển mắt. Chọn lễm nhìn bên ngoài để nói về những biến cố diễn ra trong cuộc đời của nhân vật là cách quan sắt và.
thể hiện trường thẩm quả nhất mã nhà văn lựa chọn. Dây cũng là li do người kể chuyên đã dựa vào những tu th của điểm nhìn này để vận hành những trường điễn ngôn, đem đế: fm tin cho ban đọc. Từ điểm nhìn bên ngoài, ở tác phẩm Nñang ràn thấp khuya cho ta thấy, người kế chuyện đã lặng lẽ dé dai theo biến cố, thay đổi tâm lí của nhân vật Thục Nghi. Nàng làm vợ Đức, nàng rất chu đáo trong công việc nữ công gia chánh.
Tuy Thục Nghỉ được sống trong đời nhưng lụa nhưng nàng vẫn cảm thấy cô đơn. Từ khi xuất hiện Duy bạn Đức, nàng dem lòng tơ tưởng, nhớ mong vụng trộm Duy. Thục Nghĩ dẫn vặt và tự cảm thấy mình có lỗ với chẳng. Nhưng đầu đó trong con tm nàng vẫn tơ tưởng nhớ mong về Duy.
Người kế chuyên đứng bên ngoài đối theo nhân vật, lắng nghe lời thủ thí của nhân vật. Thục Nghỉ không phân bội chồng. Bởi nàng còn nằm trong bức tường chắn sửa công dung ngôn hạnh. Nhưng Thục Nghỉ luôn thương nhớ về Duy ở mọi thời điểm, dù nàng ở bên cạnh Đức nhưng ngọn lửa ái tình đó vẫn được đốt cháy trong tâm trí Thục Nghĩ.
Như vậy, từ gốc nhìn bao quất bên ngoài, gắn với ngồi kể thứ ba, nhà văn tạo điểm nhắn trong khách quan hóa trong mạch truyện kể. Chỉnh nhờ trụ thể của giao điện nhìn này, người đọc đã vào chiều sâu tỉnh thần nhân vật, khiến người tiếp nhận không khôi xúc động bởi tính khách quan chân thực cũn nó Dac bit, trong vai người quan sắt, nhà văn tiếp tục phác họa bc tranh cuộc sống trong các truyện Chỗ mónh móng và Như điển đường lạnh qua điểm nhìn tham chiếu bên ngoài để kế lại câu chuyên trong âm điều lạnh lùng. Đó là rạng thải cảm xúc của những người đàn ông có gia đình nhưng tỉnh yêu trong họ không côn hào hững như lúc ban đầu. Tưởng, Nhân đều muốn thoát m khỏi bản tay chăm sốc, giữ vn quá chặt và nếp nhà đơn điệu ẻ nhạt của người vợ.
Theo triết thuyết âm đương, dân ông luôn là thuộc tỉnh dương hay biển đổi và luôn bay nhay thoát m th giái bên ngoài để kiếm tìm cái mới. Nhân và Tưởng đều tìm đến những thú vui ai đục lên lút Những chuyển di ấy của hai người đân ông vẫn không thể chạy đua kịp với sức hip dẫn, tr trung của ä nhân tỉnh. Để cuối cùng chính họ là kẻ hắt bại, l bước chân trở về bên mái ấm gia định và sống trong vùng an toàn của cuộc đời. Thể nhưng trong Tưởng và Nhân vẫn còn cháy rực những khát khao của Có thể ni, bằng ỗi gia cổ cho điểm nhìn bên ngoài với phương thức khách quan hóa cho mạch truyện kể, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã đem lại tính thẳm mĩ nhất dinh cho văn bản nghệ thật.
Qua đó giáp người kể chuyên có những hoạt động tương tác trong việc kết nối giữa chủ thể với mọi yếu tổ khác trong chỉnh thể nghệ thuật. đấy, người trần thuật vừa quản xuyến được sư phát triển của câu chuyên vừa trực i hoặc gián tiếp chia sé, dia ra ý kiến, thâm chí tạo ra những thành phẩn xen chỉ phối nhịp điệu truyện kể.