CHƯƠNG 1 NGUYÊN DANH LAM VỚI XU HƯỚNG CACH TAN TRONG NGHE THUAT TRAN THUAT TIEU THUYET VIET NAM DAU THE Ki XXI 1. TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐÀU THÉ KỶ XXI NHÌN TỪ NHỮNG ĐÔI MỚI TRONG NGHỆ THUẬT TRAN THUAT “Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao him cả việc miêu tả đổi tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luân, lời trữ tỉnh ngoại đề, lời ghỉ chú của tác giả. Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự nên nghệ thuật trằn thuật là một trong những yếu tổ quan trọng trong phương thức biểu hiện, còn là yếu tổ cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn.
Nghệ thuật trần thuật luôn vận động để làm mới mình theo thời gian. Lyotard — được xem là triết gia khởi đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại, cho rằng. thé ki XXI không có văn bản hay tác phẩm nữa mà chỉ có sự trải chữ trên bề mặt của văn bản. Điều này cũng thể hiện rõ quan niệm hậu hiện đại của ông là không còn tổn tại văn bản lớn nữa mà chỉ có những vi bản thức, tức là những mảng ý nghĩa, mảng đối thoại, những câu nói, những câu đang nghĩ.
Quan niệm tiểu thuyết như một trò chơi thể hiện rõ nhất ở nghệ thuật trần thuật hỗn độn, lắp ghép, phi logie, chối bỏ đại tự sự, khước từ vai trò toàn tri của người kể chuyện ở ngôi thứ ba; nhân vật bị ấy trắng; không gian nhòe mờ, thời gian đảo lộn, phi thực. 'Văn học Việt Nam đầu thế ki XXI, theo sự chuyển mình của toàn hệ thống văn học — nghệ thuật, tiếp thu những ảnh hưởng từ nền văn học thé giới, tiểu thuyết cũng từng bước cách tân trên nhiều mặt, trong đó có nghệ thuật tran thuat. ‘Tran thuật đỗi mới ở nhiều phương diện, trong công này chúng tôi đề cập. đến một số phương điện cơ bản như: điểm nhìn trần thuật, thủ pháp trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu và không - thời gian trần thuật.
Sự đa dạng hóa luân phiên điểm nhì trần thuật Bắt cứ nhà văn nào cũng phải lựa chọn cho mình một điểm nhìn phù hợp, để từ đó miêu tả, trần thuật, kể chuyện theo góc nhìn của mình. Trong văn học, điểm nhìn trần thuật được hiểu là vị trí người trần thuật quan sát, cảm thụ và miêu tả, đánh giá đối tượng. Người ta có thể nói đến điểm nhìn qua bình diện vật lý, bình diện tâm lý, qua trường nhìn. Trong nhiều tác phẩm, qua điểm nhìn trần thuật, nhà văn cho người đọc một cái nhìn mới về cuộc đời.
Mặt khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có cơ hội đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và kiến giải đặc điểm phong cách nhà văn. “Trong nghiên cứu văn học, thuật ngữ * m nhìn” đã trở nên quen thuộc với người nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay thuật ngữ này vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi. Có người chia điểm nhìn thành bai loại: trường nhìn tác giả và trường nhìn nhân vật.
Trường nhìn tác giả tức là người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát cho kiểu trần thuật mang tính khách quan. Trường nhìn nhân vật tức là người in thudt nhin sự vật, con người, sự việc, hiện tượng theo quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm, vì thế trường nhìn này bị chỉ phối bởi cảm xúc, xuất thân, địa vị, hiểu biết, lập trường của. Có người lại chỉa điểm nhìn thành điểm nhìn bên trong va điểm nhìn bên ngoài. Điểm nhìn bên trong tức là người trằn thuật nhìn thấy đối tượng, sự việc qua lăng kính của một nhân vật cụ thể.
Điểm nhìn bên ngoài là cái nhìn. khách quan khi chủ thể trần thuật giữ khoảng cách nhất định với đối tượng trằn. Theo lí thuyết tự sự học, có ba kiểu điểm nhìn phổ biến ở người kể huyện: điểm nhìn toàn trí khi người kể chuyện có vai trò toàn năng với cái nhìn thông suốt tất cả; điểm nhìn bên trong khi người kể chuyện là nhân vật; điểm nhìn bên ngoài. khi người kế chuyện hoàn toàn xa lạ với thể giới mà anh ta kể, chỉ kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài nhân vật chứ không am.
hiểu nội tâm của nhân vật. Như vậy, có thé thấy rằng sự phân chia các kiểu điểm nhìn chỉ mang tính tương đối. Ở mỗi trường hợp khác nhau, việc sử dụng linh. đông các kiểu điểm nhìn phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo của người sáng tác.
“Trước năm 1975, văn học tập trung mục đích phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc, nội dung phản ánh của văn học hẳu hết hướng đến cái nhìn nhất quán. nhằm ca ngợi, cỗ vũ tỉnh thần chiến đấu của quân dân trong cuộc đầu tranh bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc. Tuy vẫn hiện tồn một bộ phận sáng tác rễ vào những mối bận tâm đời tư, song vẫn chỉ là một dòng riêng, phụ lưu trong hợp lưu văn học 1945 ~ 1975. Sau chiến tranh, văn học chuyển hướng phản ánh cuộc.
sống hòa bình với những vấn để lien quan đến đời tư thể sự. Khởi đầu, nhiều nhà văn đã có dấu hiệu khắc phục cái nhìn một chiều trước đó, chẳng hạn một số tác. giả tác phẩm như Nguyễn Minh Chau (mién cláy, lửa từ những ngôi nhà), Nguyễn Khải (Chø và con, và.), Khuất Quang Thụy (rong cơn gió lốc), Nguyễn Trí Huân (Năm 75 ho đã sóng như thé), Nguyễn Trọng Oánh (Đá: trắng). Nhưng phải từ sau Đổi mới, sự khuyến khích, yêu cầu những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật đã tạo động lực mạnh mẽ cho đội ngũ nhà văn thực hiện sự cách tân đột phá văn học, đặc biệt là tiểu thuyết.
Đội ngũ nhà văn viết tiểu thuyết ngày càng nhiều và nhiều tác phẩm ra đời theo xu hướng cách tân thể loại: Nguyễn Khải, Bảo Ninh, Chu Lai, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Thuận, Y Ban, Trần Nhã Thụy, Đỗ Phan. Lic nay, các nhà văn được. tự do phản ánh cuộc sống hiện thực với cái nhìn đa chiều khiến cuộc sống được hiện ra một cách chân thực và sống động như thực tế vốn có. Cái nhìn đa chiều 10 đố mở ra với một tư duy rộng mở, đón nhận nhiều cái nhìn trái chiều, đối lập.
tao nên một nền văn học mới - nền văn học dân chủ, sáng tạo hòa nhịp cùng với nền dân chủ của dân tộc và thế giới. Nếu trước đây, vai trò của nhà văn thường là độc tôn, là “toàn tri”, “biết tuốt”, thì tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI, với tinh thần gia tăng tính đối thoại, đã thực hiện sự thay đổi tương quan hết sức quan trọng: vai trò của nhân vật ngang. hàng, ình đẳng với vai trò của người kể chuyện. Tác phẩm không chỉ có điểm nhìn của nhà văn, của người kế chuyện mà còn sử dụng điểm nhìn của các nhân vật sắm nhiều ngôi kể trong tác phẩm.
Khi sử dụng điểm nhìn của nhân vật, tác giả đã trao cho nhân vật cái quyền phát ngôn và những phát ngôn ấy thường hàm. chứa cái nhìn của chủ thể trần thuật. Qua đó, ta thấy mỗi tương quan giữa điểm nhìn của tác giả và điểm nhìn của nhân vật. Hai điểm nhìn này có khi song song, có khi hòa nhập tùy thuộc vào chủ ý của người sáng tác ‘Dac biệt, trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, điểm nhìn của người kể chuyện không phân định một cách rạch rồi giữa điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật mà các điểm nhìn này được di chuyển một cách linh động/ luân phiên.
Ngoài ra, trong một tác phẩm có khi có thể có nhiều người cing mang điểm nhìn, tức là điểm nhìn được di chuyển tir nhân vật này tới nhân vật khác. Có thể ní sự đan xen và dịch chuyển điểm nhìn liên tục cũng là một cách thức để tạo nên tính phức điệu trong phương thức trằn thuật của tiểu thuyết. Sự di chuyển, luân phiên điểm nhìn này có thể từ người kể. chuyện tới nhân vật hoặc từ điểm nhìn nhân vật này tới điểm nhìn nhân vật khác Theo 46, van ban nghệ thuật trở thành một cấu trúc đa tằng, có khả năng phi vo tính đơn âm và cùng lúc chồng xếp lên nhiều tiếng nói khác nhau.
Bên cạnh việc di chuyển, luân phiên điểm nhìn, các điểm nhìn còn đan chồng nhau mỡ ra cho người đọc những khám phá mới mẻ vềđối tượng. Trường hợp như vậy gọi là đa bội điểm nhìn. Đa bội điểm nhìn xuất phát từ nguyên tắc " phi trung tâm hóa trần thuật. Nền tảng triết học của nó chính là ở sự đả phá các đại tự sự tạo ni ih dân chủ, đa trị trong nghệ thuật kể chuyện.
Không chỉ có vậy, khi có nhiều người kể, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các điểm nhìn đó. tự chúng đối thoại, tương tác xoắn bện nhau để làm rõ hiện tượng, bản chất vấn đề. Đây cũng được coi là điểm trần thuật mới mẻ mà các nhà tiểu thuyết đại Việt Nam thường áp dụng (44]. Qua da bội điểm ni trần thuật được khách quan hóa và giúp người đọc nắm bắt được bản chất hiện tổn của con người cũng như.
có thể đối thoại để tìm ra nội dung, ý nghĩa của tác phẩm. Nhu vậy, sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật và luân phiên thay đổi điểm nhìn cũng là một đặc điểm cách tân nỗi rõ tong nghệ thuật tự sự của các tiểu thuyết theo hướng hiện đại ở đầu thể ki XI. Ngôn ngữ đa thanh, phức điệu Gorki đã viết. "Yếu tổ đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và - cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - nó là chất liệu của văn học”.
Trong thực tế, chúng ta thấy rằng, ngôn ngữ không chỉ là chất liệu. của văn học mà nó còn là "sự phát ngôn thể hiện nhãn quan giá trị của những nhóm xã hội khác nhau với tư cách là những chủ thể giao tiếp thẩm mĩ” (Lã Nguyên). Từ sau năm 1986, cùng với sự thay đổi tư duy văn học, ngôn ngữ trằn thuật cũng đã có nhiều cách tân đáng kể, nỗi bật ở thể loại tiểu thuyết Ngôn ngữ trần thuật gồm có ngôn ngữ người tran thuật và ngôn ngữ nhân vật. Ngôn ngữ người trần thuật là phần lời văn độc thoại thể hiện quan điểm tác.