CHƯƠNG 1 NGHỊCH DỊ VÀ TIÊU THUYÊT HỖ ANH THÁ ‘TRONG DONG CHAY TIEU THUYET VIET NAM DUONG DAL 1. Nghịch đị và nghệ thuật nghịch trong tiểu thuyết -LI-1. Về hái niệm nghịch đị Theo Từ điền vn lọc, “nghichdi (téng Kaa: grotcsco;iếng Pháp: grotesinc; sn được địch là thô kêch hoặc kỳ quặc); là thuật ngữ chỉ một cách tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, vào tính trào phúng, tính ngụ ngôn, ngụ ý, vào sự kết hợp và tương phân một cách kỳ quặc cái uyễn hoặc và cái thực, cái đẹp và cái xấu, cấ bỉ và cái hài, cái giống thất và cái biểm họa" 30.1053] 'Cồn theo 7? điền thuật ngữ văn học, “nghịch dị là một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng tiếng cười phóng dại, lỗi kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, bỉ với cá hài, cái giống như thực với cái biém họa. Nghệ thuật "nghịch dị là một kiểu ước lễ đặc thù: nỗ công nhiên và chú ý trình bày một thể giới di thường, trái tự nhiên, chẳng hạn: “Lỗ mũi thì tám gánh lông - Chồng yêu chồng bảo râu rồng tri cho" (Ca đao).
Hoặc trong cái mũi của Gogol, cái mũi trên mặt viên tướng Kô-va-lép bỗng nhiên biến mắt một cách không sao giải thích được rồi sau Iai trở về chỗ cũ và cái việc bất thường Ấy dẫn đà trở thành bình thường đến nỗi có viên quan nọ ngà mũ chảo cái mũi của ông ta đang dĩ dạo trên bờ sông Nê-va. Những thể giới người tí hon và người khổng lồ mà chẳng Gu-li-vơ gặp phải cũng là một thể giới nghịch di. Nghịch đi khác với áo (antasigue) hâm biém (satire), mac dù có sự. i ghi và có sử dụng yêu tổ này.
Kiều tượng nghịch đi vốn có trong ân thoại và trong nghệ thuật cổ sơ của mọi dân tộc, nhưng chỉ trong sắng tác của một số nhà văn cổ đại ở văn học Châu Âu và trong văn học dân gian, nó mới trở thành thủ pháp. Ở thé ki XX, chất nghịch đi trở thành hình thức tiêu biểu cũa nghệ thuật, kế cả một loại khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa (chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực). hình tượng nghịch dị hiện dại chủ nghĩa, thể giới quen thuộc với ta bỗng chốc biển thành thể giới thủ địch, xa la, đó ngự trì cái võ nghĩa giống như một sức manh siêu u nhân không thể hiểu được, một tắt yếu vô điều kiện biển con 26 người thành con rồi chất nghịch di ở đây trở thành nỗi sợ sống, trở thành ý thức về sự phí lí sinh tổn” (24,141-142] “Trong thực t8, “Nghich di 1a kiéu hinh tong da c6 tir xa xưa trong các hệ thin thoại, trong cổ ngữ của mọi dân tộc. Đó là hình thức đặc trưng cho văn hóa dân gian, nhất là trong các lễ hội cải trang ở châu Âu trung đại.
Nadan Tamarchenco coi Nghịch đị (grotesque) "là một tong những thủ pháp, tiếp cận thẩm mĩ đối với hiện thực”. Bakhtin Iai quan niệm nghịch di là lệch, chống, phá chuẩn, mà chuẩn ở đây là những gì đã trở thành chính thức, chính thống, đã xơ cứng, hoàn kết. Theo đó, ở thời đại Phục Hưng, thuật ngữ nghịch dị xuất hiện lần tiên nhưng lúc đó theo nghĩa hẹp.Bakhin đã đưa ra mô hình mĩ học nghịch di và chứng minh một cách thuyết phục qua những sáng tác của Erancois Rabelais và nâng lên thành lí huyết vé chủ nghĩa hiện thực nghịch dị mà hạt nhân cơ bản à iếng cười lưỡng tử trong nễn văn hóa tro tiều dân gian. Ông cho rằng trên thực tể, chính hình tượng nghịch di giải thoát con người khỏi mọi hình thức của cái tấ yếu phi nhân đã ngắm sâu vào những quan niệm chính thống về thé giới.
Cái nghịch đị đã hạ uy tin của cái tắt yếu, cho thấy nó như một cái tương đổi và hữu hạn. Và, hình tượng nghịch dị thường mang tính nước đổi và mâu thuẫn. Chúng kỉ di, của mọi thứ mĩ học sổ diễn, tức là mĩ học của một sự sinh tổn và hoàn kết Như vậy, nghịch di tôn tại từ lâu trong nghệ thuật, đồng vai trò khác nhau trong sắc nghệ thuật khác nhau. Nói như nhà nghiên cứu Lai Nguyên An trong Từ điển văn “học bộ mới thì “rong lịch sử và í uận văn học, nghịch đị kh thì được xem là thủ pháp của cái hải, khi thì được xem là mức độ sắc sào của sự châm biểm, kh thì được nhắn mạnh ở tính táo bao của hình tượng huyén tưởng” [30,053].
Nghịch di cũng là một nguyên tắc miêu tả hiện thực trong đồ kết hợp một cách nhân tạo các sự vật thuộc các loại sinh vật khác nhau, phá vỡ sự giống như thật của mô phỏng đời sống, kết hợp những cái không, ê kết hợp được. Và ả th, có thể hiểu nghịch dị là thể giới là nghệ thuật, là thủ pháp, là một kiểu ước lệ đặc thù. Nổ công nhiền và chủ ý trình bảy một th giới dị thường, tri twrnhiên, Hạt nhân quan trọng nhất của nghệ thuật nghịch dị tính lưỡng tỉ, tỉnh nước đồi, tính chưa hoàn kết. Xét vỀ sự thể hiện đầy đủ bản chất thể hiện khái niệm nghịch di, chúng tôi chọn khái niệm: Nghịch dị là một ki tổ chức hình tượng nghệ thuật 12 (hình tượng, phong cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hải, là sự hòa trộn của cái hài với cái kinh dị, cái giống như thực với 'm họa, bình thường và bắt thường, lạ lòng, kì quae 11.
Nghịch dị một phương thức nghệ thuật quan trọng trong tiêu thuyết thế ki XX, nghịch dị trở thành một hình thức tiêu biểu của nghệ thuật. Các motiF nghịch dị có mặt trong sảng tác của một loạt nghệ sĩ lớn của thể kỉ XX như Swift, Hoffman, Kaffka, Bungacov, Faulkner v. Thể giới nghịch di ở họ nói chung không loại trừ nguyên tắc hiện thực (Hóa thân và Vụ ân của Kafka, Khi tôi nằm xuống của Faulkner). vẫn “thiên về tổ cáo một chiều nhưng hướng tới sự luận bàn tri lý về những xung đột xã hội và tỉnh thần của thể kỉ XX” [30.
Nghịch đị là thủ pháp mà nhiều nhà văn phí lỉ sử dụng và được đồng kich phi lí đây lên thành một thủ pháp chủ đạo, Sự có mặt và tổn tại lâu bền của nghịch đị trong tiền trình phát triển của văn học cũng như giả tỉ nghệ thuật của nó trong mỗi sáng tíc của các nhà văn cho thấy đây là một phương thức quan trọng trong văn học từ cổ chí kim đặc biệt là trong tiểu thuyết Trải qua các giai đoạn lịch sử, các thời kỳ văn học, nghịch đi với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật đã có nhiều biển đổi, bổ sung, mỗi thời kì có một màu sắc riêng 6 Viét Nam, thời trung đại, nghịch di thể hiện ở việc hướng đến việc trình bày những cái đời thường, những hình tượng mà trong văn chương cỉ thống nhà Nho vốn không đề cập đến lọ sợ vi phạm vào những chuẩn mực đạo đức và văn phong. đã trở thành các quy phạm cổ diễn. Từ đồ hưởng đến một quan niệm khác, một cái nhìn khác về thể giới, rằng cái mà từ trước tối nay vốn được cho là không trang nghiêm, không chính t tạ vẫn tồn ti, vẫn luôn khiêu khích và có những lí l£ tổn tỉ của riêng nó, Nghịch di trong thời đại này vì thể mà đổi thoại với truyỄn thống trang nghiêm Trong văn học hiện đại giai đoạn 1930 — 1945, iễu thuyết Vũ Trong Phụng có thể được coi là những tác phẩm thắm dim chit nghich di. Tiêu thuyết Vũ Trong Phưng mang, Ên những tiếng cười mia mai vé tỉnh trang đạo đức gi tao tin tai nghigm nhiên trong những hình thức trang nghiêm.
Ông hướng đến cá tầng lớp tỉnh hoa trong địa vị xã hội nhưng lại rit “rom đời”. Họ là những người đội mặt nạ, là những biểu hiện lệch lạc và không trơng xứng giữa phẩm chất và những chuẩn mục hành vỉ của con người Trong văn học Việt Nam đương đại, nhiều nhà văn hướng, miêu tả thông qua các bình thức giễu nhai, cười cợt, suỗng sã, giảng cấp, vật hóa, sử dụng 1 ngôn ngữ chợ búa, chửi rủa, v. Những yếu tố này có thể tìm thấy trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương (Những đứa trẻ chết già), Tạ Duy Anh (Thiên thin sám hồi), Đặng Thân (Những mảnh hẳn trần) v. Nó hướng đến một quan niệm nghệ thuật về bản chất của con người, quan hệ giữa chúng với nhau và với thể giới.
Đồng thời hướng đến việc cắp một cái nhìn khác về hiện thực vốn trang nghiêm và đặt năng các quy chuẩn. Cũng vì thể trong tương quan với những biểu hiện đa dạng của cuộc sống. Nghịch dị hướng đến việc cho con người thấy bản thân mình một cách tự nhiên ở khía cạnh cảm tính sống động. Nó vừa khai tử một thế giới nào đó, vừa tái sinh và hướng đến đôi mới Nếu tiểu thuyết được hiểu là "thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự tran thuật tập trung vào số phân một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển tong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” [30, 1716]; à “thể loại của tỉnh thần tự do, vượt ra khỏi sự gồ bó của những luật lệ cũ và cho phép sự sáng tạo về hình thức cũng như về chủ để” [24, 328] thì với tính Tên luôn biến đổi, có khả năng phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bền hơn sự in chuyển của bản thân hiện thực, ti thuyết là thể loại chính trong tiến trình phát triển văn học đồng chất với thể giới ấy vé mọi mặt `Và nghịch dị, khi hiện điện trong tiễu thuyết, nó có sự liên quan đến kiểu, cách thức tổ chức hình tượng nghệ thuật.
Nó hướng tới việc biểu hiện một hệ thẳng các đấu hiệu dlc thi cia thể giới thông qua hình tượng nhân vật, qua ngôn ngữ, v. thông qua các biểu hiện đó nhà văn hướng đến các ngụ ý, sự trào phúng, v. mang đến một cái nhìn Tiêng và khác về th giới. Cũng ở điểm này, nó thuộc một yêu tổ quan trọng của phong cách 'Nghịch đi hướng đến một kiểu ước lệ đặc thủ mang tính phi logie.
Cả không gian nghệ thuật đảo lộn, hướng đến sự tự do của hư cấu nghệ thuật nhằm phá hủy các hình thức vốn bi tư duy duy i dp dat trong cic chun mục của đời sống thông thường.