mở đầu ‘ma kh ok, không khó ở lết mà khó ở thận [138J. Thiễu cái nhĩ toàn vẹn về cầu tn tổng thể của bài thơ, mọi sự phân tích, ca ngợi vẻ đẹp từng câu thơ trong bài tứ. tuyệt đều là võ nghĩa. Chức năng và giá trị mỗi bộ phận trong bố cục bài thơ tứ tuyệt được xác định khi nó nằm trong mối quan hệ chặt chế với những bộ phận khác và với toàn bộ chínhthể, Mỗi câu thơ đều có cái hay riêng của nó, đều đồi bồi phải là sự thể hiện của trình độ nghề ngh ép lão luyện, vốn sống từng trải, lịch lãm, bản lĩnh tài hoa và trái im nhạy cảm, tính tế ở mỗi người nghệ sĩ “Tổng quan vỀ tiền trình thơ tứ tuyệt Việt Nam “Quá tình phát triển của văn học luôn gắn liền với sự kế thừa, tếp thu có chọn lọc nhằm phát huy tối đa những giá trị của truyền thống.
Văn học Việt nam. trên hành trình từ văn học trung đại đến in hoe hign dai chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Hoa trên nhiều phương diện từ chữ viết đến đề tài, thể loại “rong sự ảnh hưởng sâu rồng của văn học Trung Hoa đối với văn học Việt Nam thi thơ Đường chiếm một vị trí đặc biệt quan trong. “Trên thể giới có lẽ hiểm có quan hệ văn chương nào đặc biệt như quan hệ thơ Đường với thơ Việt". Mỗi quan hệ giữa thơ Đường và thơ Việt được biểu hiện rõ nhất trên phương điện thể loại và đó 1a thể loi thơ tứ tuyệt = một thể loại đặc trưng nhất của nghệ thuật thơ Đường đã ốp phần làm giảu có, phong phú hơn cho nên thơ ca Việt Nam, Thơ tứ tuyệt xuất hiện ở Việt Nam khá sớm, bất đầu thời Lý - Trân.
Văn bản thơ sớm nhất côn gi lạ được đến ngày nay là bài thơ của Ngô Chân Lưu, một hả sự và cũng là một vị quan chức dưới triều Lê Hoàn. Thơ được làm theo lệnh vua nội dụng tiễn sử giả nhà Tổng nên tính chất sử điệp thể hiện t rõ tong khí nhà thơ vẫn chọn thì đ tổng biệt cũng với những hình ảnh ước lệ thường thấy và th từ Khúe phóng khoáng, đậm chất trữ tỉnh. Một cánh bum “vượt sổng xanh muôn đậm trùng dương” (Thi trùng vạn lý thệp thương lang), một mỗi tình thâm thiết hòa trong chến rượu ly biệt (Tĩnh thâm shit - Bi y tnường). những hình ảnh giàu chất thơ ấy, thật hú vị, lại được đành cho một "văn bản bang giao" với mụcđích chính trĩ rõ rệt được nhắc đến trong hai câu thơ cuối cùng: "Nguyện tương thâm ÿ vị Nam sương - Phân mình báo ngã hoàng” (Xin đem thâmý vì Nam cương » Tân vua tôi tỏ tường” (129.
Đẳng thỏi một bài thơ ứng khẩu của nhà sư Pháp Thuận với sử “Trang 20 giá nhà Tổng là Lý Giác cũng được xem là một trong những văn bản th tử tuyệt sớm nhất của Việt Nam: “Ngữ nga lưỡng nga nga _Ngưỡng diện hướng thiên nha (nhai) ‘Bach mao phi luethiy Hồng trạo bãi thanh ba. Dich thơ ng song ngng một đổi! Ngừa mặt ngó ven trời "/“Lông trắng phố đông bic! "Sóng xanh chân hẳng bơi” Hai câu đầu bài thơ là của Lý Gi ứng khẩu, bai cầu sau là Pháp Thuận tiếp lời. Bài thơ được xem là một trong bải thơ ngũ ngôn cô phong. Những bài thơ Đường.
được xem là xuất hiện sớm ở Việt Nam đều do các thiền sư viết ra như Vạn Hạnh, Viên Chiễu. Đây cũng là thời kỳ lưu bảnh khá phổ biến một số bài thơ ngắn gọn ‘mang tinh chit sim vĩ của các nhà sư, những người được tô vỉnh là cổ trí tuệ uyên bác, cổ khả năng đoán định chuyện vi lai quá khứ nên được cả chính quyển phong kiến lẫn nhân dân kính trọng. Có một số hìn ảnh n du rồi ra và kh hiểu hàm chứa ẫn ý sâu xa hoặc đơn giản chỉ là hệ quả của cách chiết tự một từ nào đó được sử dụng trong những bài thơ này. Chẳng hạn như những hình ảnh trong bai thơ tương truyền là do nhà sư Vạn Hạnh làm ra để “tạo dư luận cho Lý Công Uấn.
192]: “Thụ căn điễu đều Mée biểu thanh thanh: Hoà đao mộc lọc Thập bắt tử thành " (Gốc cây thăm thắm- Ngon cây xanh xanh - Cây hoà đao rụng - Mười tâm hạt thành) Ở thời Lý — Trần học vẫn rất được coï trọng. Triều đình thường hay mở các khoa thi tuyển chọn người tài do đó thơ ca phát triển mạnh. Nhắc đến thơ tứ tuyệt thời Lý, trần trước tiên phải kể đến bài Nam quốc sơn hả của Lý Thường Kiệt « bài thơ đã thể hiện tỉnh thin chung mang những nét tiêu biểu của thơ tứ tuyệt. ịnh thức ty bé nhỏ nhưng chuyỂn tải nội dung cótính khái quất cao.
“Trang 21 Nam quốc sơn hà nam để cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thự Nhu hà nghịch lỗ lai xâm phạm? “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư! Bản dịch c Trần Trọng Kim: Sông núi nước Naơt vua Nam ở Rảnh rành định phốn ở sách trời! Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bởi. Tho ca đời Lý- Trằn một phần lớn là bộ phận thơ ca nhà chùa, thường gọi là thơ Thién. Tho ca trở thành một phương tiện hữu hiệu mà các nhà sư có thể vận. dụng để phục vụ cho mục đích truyền đạo và ngô đạo.
“Thién uyễn tập anh ngữ lục” ghỉ chép nhiều câu chuyên về các nhà sư có thối quen tr lời những câu hỏi chất vẫn của người học đạo hoặc dặn dồ các để từ trước khi qua đồi bằng một bài thơ ngắn son, thường là bốn câu. Nhiễu bài thơ đề cập đến vẫn đề đời sống, vận mệnh dân tộc có ÿ nghĩa giáo h cực vượt ra ngoài phạm vỉ tôn giáo. “Ngư nhằn” của nhà sư Không Lộ là một Tận lý thanh giang, vạn lý điển, “Nhất tin tang gi, nhất thôn yên “Ngư ông thựy trước, vô nhân hoán, “Quá ngo th la, ngắt mẫn thuyền Dịch nghĩa ‘Song xanh muôn dặn. trời muôn dặn/Một xôm dâu gi.
xôm Khi mây Ông chai ngủ say t không ai gọi /Quá trưa tỉnh đậy, yết xuống đây thụ "Nhà sư Không Lộ phác họa một bức tranh thủy mặc đầy chất thơ với vạn đăm, sông xanh, trời xanh, những vũng dau day, khói sóng và hình ảnh một ông chà đơn bị chìm lắp mờ ảo trong vùng tuyết gợi nhớ cái không gian trắng mênh mông, quạnh vắng, lạnh lo trong "Giang tuyết" của Liễu Tông Nguyễn. Bài thơ tiêu biển cho chất trữ tình triế lý thể hiện rõ cái nhữn thắm nhuẫn tình thần sắc khổng nhưng các hình ảnh Đường thí quen thuộc lại tạo được n tượng đặc biệt sinh động. Chúng sợi những cảm xúc sầu lắng trong tâm hồn người đọc và sự ngạc nhiễn kh nhận rà ring én sau chi áo cả sa vẫ là tái m nhay cảm của một nhà thơ, Nồi riêng thi Trần, thơ ca thời Trần phát iển gắn lên với hào khí Đông A. CCác bài thơ tứ tuyệt xuất ba khá nhiều mang cảm hứng yêu nước, thể hiện ý chỉ “Trang 22 niềm tia không lay chuyển vỀ vận mệnh của đất nước.
Con người được khắc họa trong ác phẩm là những con người mang tằm vóc vũ trụ với khí thể tung hoành và lòng yêu nước mãnh liệt, thiết tha như bài Thuật ôi của Phạm Ngũ Lão. Cảm, hứng yêu nước trong thơ tứ tuyệt đời Trần mang nhiều màu sắc, trạng thải khác nhau "Nhiều bài thơ hay để li dấu ấn riêng như: Bạch Đừng giøng- Trần Minh Tông, TH Trường văn vọng ~ Trần Nhân Tông, Ting Pham công S Mạnh Bắc sử - Lê Quát, Tạng giá hoàn khinh sự- Trần Quang Kh: ‘Sang thé khy XV van học viết chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo. Đáng chủ ý thời kỳ này là sự xuất hiện của dòng văn học viết bing cht Nom. Quéc đâm thi tập của Nguyễn Trãi được xem là bước nhây vọt của thơ ca viết bằng chữ 'Nôm.
Văn học chữ Hán vẫn tồn tại và phát triển phát triển với thể Phú. Có thể kế đến một số bài hay đặc sắc của Nguyễn Tri: Cáy chuối, Đề Bá Nha cổ cầm đổ, Ned “lành, Văn lập, Đề sơn điễu hồ nhân đồ, Đề Đông sơn tự, Mộng sơn tung, Mộ xuân ức sự. Giai đoạn từ thể kỹ XVI đến nữa dẫu thé ky XVII vin hoe pit triển phong phú về mặt thể loi, đặc biệt là văn học viết chữ Nôm. Thơ ca viết bằng chữ Nôm uất hiện nhiều thể loi mới như thơ Nôm Đường luật, ngâm, ca tù, thơ lục bát “Thơ viết bằng chữ Hán đặc biệt phát tiễn thơ vịnh sử, thơ đi sứ và thơ đạo lý.
Thơ tứ tuyệt thời ky này vẫn tốn tại tuy nhiên vì đây là giai đoạn văn học chữ Nôm phát iển nhiễu thể loại mới nên th tứ uyệt xuất hiện t hơn Giai đoạn coỗi thể kỹ XVIHI đến nữa sau thể kỷ XIX văn học viết bằng chữ Tấn và chữ Nom phát iển với tốc độ nhanh chúng. Các th loại thơ Đường luật, luc bát, phú cổ thể, phú Đường luật đã phát tiễn ở giai đoạn trước nay lại phát iển hơn Các thể ngâm khúc, truyện thơ, át nói cũng đạt được nhiều thành tưu. Những ác giả đã làm nên thành tựu cũa văn học thôi ủy phải kế lên đến như Hỗ Xuân Hương, "Nguyễn Khuyế Tú Xương. Về thơ tứ tuyệt phải kể đến những bài thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm của Hỗ Xuân Hương.
Thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương vẫn trân thủ khá nghiêm nhặt quy cách sắng tác thơ Dường luật, nếu không nôi là thành thục hơn so với thơ Nôm tứ tuyệt thể kỷ XV- XVI, thời kỳ mà chữ Nôm mới chỉ vừa đạt được những thành công bước đầu trên con đường hội nhập vào sáng tác văn chương bác học. Ở thể kỹ XVIIE-XIX, chữ Nôm văn học đã tiến một bước khá dải với nhiễu “Trang 23 thành tưu định cao và đó là điều lện cần thiết cho những cách tân thơ ca táo bạo "Mặt khác, Hồ Xuân Hương còn kế thừa được phong cách nồi bỏ lũng, ngắn gọn và hầm súc của thơ ca cổ điển để tạo nên các giá tị đa nghĩa cho hình tượng, để có thể nói nhiều điều trong một phạm ví ngôn từ nhỏ hẹp của bài tứ tuyệt. Các đề tài lấy từ. phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống, kể cả cuộc sống cụng đình lẫn cuộc sống dân gian từng được khai thác tong văn chương trước đó, giờ lại được nữ thỉ sĩ này tiệp nối sử dụng.