CHƯƠNG 1. VÕ QUANG —NHA VAN TIEU BIEU CUA VAN HỌC THIÊU NHI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Vài nét về cuộc đời và hành trình sáng tác cị Vo Quang 1. Vài nết về cuộc đời Võ Quảng 1.
Quê hương và mi thơ 'Võ Quảng sinh ra và lớn lên ở vùng quê xứ Quảng, làng Hòa Phước, xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Theo như nhiều tài liệu viết về Võ Quảng thì «qué Ong là một vùng sơn thanh, thủy tú, có con sông Thu Bồn chảy qua với những bãi dâu xanh ngắt hai bên bờ và thuyền bè qua lại trên sông tip nập. Đất Đại Hoà là nơi ai con sông Thu Bồn và Vu Gia gặp nhau, tạo nên một ngã ba sông trù phú, tuy năm ảo cũng có lụt nhưng cũng nhờ đó mã phủ sa tràn trễ mặt ruộng, mía bắp mọc tươi tốt đọc hai bên bờ sông. Mùa mía, những lò đường nhã khối bốc lên nghĩ ngút, mùi mật gọt thơm phúc, ngào ngạt khắp làng.
Mùa tằm, lái buôn khắp nơi đỗ về mua những, thúng kén vàng ống, Làng của Võ Quảng trải dài theo sát mép sông Thu Bồn, người dân nơi đây chủ yếu làm nông, trồng mía, trồng dâu nuôi tằm. Đây cũng là ngôi làng ghỉ dấu bao nhiêu kỉ niệm trong cuộc đời nhà văn, nơi ông gắn bó với những người thân yêu của mình. Trong bài tự bạch 7rến mộ dòng sóng, ông viết: "Đứng chỗ tôi (làng “Thượng Phước) nhìn ra thấy rõ những cánh buồm trắng rạch qua rạch lại sau bãi dâu xanh. Tôi số 12 4 đó từ lúc nhỏ cho đến khi khôn lớn.
Bà con nội, ngoại của tôi ở dọc con séng đó rất đông. Tôi có một bà dì bên ngoại mẹ ở tận trên Dùi Chiêng, có vài ông cậu không biết bà con đã mấy đời, ở tận La Qua, Vinh Dign”[42,23]. Lng Hòa Phước cũng chính là bối cảnh chính trong các tác phẩm của Võ Quảng như Cái thang, Cay da làng, Quê nội, Tảng sáng, Một địa điểm nữa cũng xuất hiện trong kí ức tuổi thơ của nhà văn đó chính là khu chợ Quảng Huế sằm uất cách làng Hòa Phước không xa. Từ khu chợ này có một con đường thẳng tắp nỗi với thị trắn Ái Nghĩa.
Vì thế, giao thông bến trên bến dưới tip nập, người người ngược xuôi buôn bán. Người Tâu cũng đến đây bán vải, thuốc Bắc, người Tây mở nhà máy ươm tơ, dệt lụa. Vùng này có một trường tiểu học, đó là trường Mỹ Hòa, nơi Võ Quảng theo học lúc nhỏ. Ca viing đất Đại Lộc được ôm ấp bởi hai dòng sông lớn nên trở thành đầu mối giao lưu quan trọng giữa vùng núi và đồng bằng, quy tụ nhiều người tứ xứ đến làm ăn, buôn bán.
Điều làm cho cảnh sinh hoạt ở khúc sông này trở nên nhộn nhịp hơn cả là nhờ các điệu hỏ, điệu hát tâm tình, thơ mộng luôn vang lên trên các dòng sông, kể cả vio ban dém khuya khoắt. Những điệu lí, bài chi, đối đáp là một phần không thể thiểu trong sinh hoạt văn hóa của người dân. Những câu hò ngắn gọn, di dõm được. ba con sing tác tại chỗ rất nhanh, đem lại iếng cười và những giây phút thư giãn sảng 10 khoái cho người dân quê trong cuộc sống một nắng hai sương.
Một điều đặc biệt nữa là ngay sắt chợ Quảng Huế có một gánh hát bội tới dựng rạp, đêm nào cũng diễn. Đây được xem như món ăn tỉnh thằn của người dân địa phương. Họ mê tuổng như điều đỗ đến nỗi các tích tuồng họ gần như thuộc lòng, ngay cả trẻ con cũng rắt rảnh về các vớ như: Sơn Hậu, Trảm Trịnh Ân, Phụng Nghỉ Đình, Tiết Nhơn Quý,. Những tích tuồng phần lớn diễn tả tình thần kháng khái, phỏ trung, diệt nịnh, giúp nước cứu đời.rất hợp với tính cách người dân đất Quảng.
Các diễn viên của gánh hát được dân chúng yêu quý, tên của các diễn viên như bà Liễu, ông Phẩm,.được truyễn tụng khắp nơi. "Những cảnh sắc thơ mộng của làng quê, những giọng điệu dân gian, những âm thanh sống động trên sân khắu rực rỡ như thể đã hẳn in trong tâm trí Võ Quảng. Có thể nói rằng, Võ Quảng được thừa hưởng trọn vẹn các di sản văn hóa nghệ thuật quý báu của quê hương mình. Những kỉ niệm, những ấn tượng ấy đã đi theo suốt cuộc đời ông và được ông tái hiện lại một cách sinh động qua những quyén truyện, tập thơ dành cho thiểu nhi.
Đọc tác phẩm của Võ Quảng, ta thấy bóng dáng cảnh vật và con người xứ Quang mang những nét đặc trưng riêng không lẫn với bắt cứ một vùng quê nào. Võ Quảng viết về quê hương khi đã cách xa hơn 40 năm mà vẫn như đang hiển hiện trước mắt, quả thực đó là điều đáng nẻ, bởi nếu như không yêu quê hương, đến nỗi mỗi hình ảnh về cảnh vật, con người đều khắc sâu trong tâm trí thì chúng ta không thể có những trang viết dành cho thiếu nhỉ bay đến vậy. Quê hương dưới ngòi bút của Võ Quảng như bừng rỗi dậy với một sức sống vô cùng mãnh liệt, tắt cả đều trở nên có hỗn, có cảm xúc, có suy tư, có khát vọng, có ước mơ,. Qua đó, ta cảm nhân.
phần nào tình yêu quê hương sâu sắc trong con người Võ Quảng,. “Có thể nói rằng, xứ Quảng là vùng đất đã tắm mát tâm hồn tuổi thơ, giúp cho hat gidng tinh thin bên trong của nhà van nay né. Về Quảng ~ một đời cống hiến cho cách mạng và văn học thiểu nhỉ ‘Vo Quang sinh ngày 01 thắng 3 năm 1920 tại xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Từ nhỏ cho đến tuổi niên thiếu, ông sống ở vùng nông thôn.
Mẹ làm tuộng, chăntằm. Cha là một nhà Nho, thường hay đọc sách thuốc, thuộc rắt nhiều thơ của các thí nhân thuở trước, thí âu đối, tong nhà giữ gìn nề nếp Nho phong. Sinh trưởng trong gia đình coi trọng chữ nghĩa, Võ Quảng được tiếp thu và thừa hưởng niễm yêu thích văn thơ từ cha, và đó cũng là nền tăng cho sự nghiệp văn chương sau này của ông. "Như bao trẻ trong lãng, bắt t lúc sáu, bảy tuổi, Võ Quảng đã biết đỡ đẫn việc nhà cho mẹ.
Nhà nui trâu, cậu lo chấn trâu, đưa trâu ra đồng, cắt cỏ cho trâu, dẫn trầu di cây, tâm cho trêu. Cậu thích nhất là những lúc được vắt véo trên lg tru choi đâa cũng đám bạn. Những kỉ niêm ấy sau này cũng xuất hiên trong những rang viết sữa ông Sau khi học xong ở qu, Võ Quảng được gia dinh cho ra Hu thi. Nam 1935, Sng vào học trường Quốc học Huế.
Tại đây, khi mới 16 tuổi, được tiếp xúc với nhiều ul sách báo tiến bộ, ông đã sớm chọn cho minh con đường di theo cách mạng giải phóng cdân tộc. Thời gian ở Huế, ông lần lượt tham gia các phong trào đầu tranh của học sinh, tham gia các đoàn thể như đoàn Thanh niên Dân chủ, Thanh niên Phản để. Năm 1941 là quảng thời gian khó khăn nhất của Võ Quảng. Trong khi đang thì Tú tài thì ông bị chính quyền Pháp bắt giam.
Trải qua không it nhà tù của để quốc, từ nhà lao thừa Phủ cho tới các nhà lao Vĩnh Điện, Hội An.với nhiều điều kiện giam cằm tàn khốc, những trận đòn thù và sự đầy ải vẻ thể xác. Tuy vậy, những gian khổ đó không làm người thanh niên trẻ tuổi nao núng tỉnh thần. Trong thời gian bị quản thúc ở Hội An và ở quê, ông tiếp tục giác ngộ cách mang cho bà con họ hàng và người làng, đồng thời tổ chức cho bà con tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp. Về sau, trong số này có nhiều người đã trở thành những nhà cách mạng, những sĩ quan cao cấp trong quân đội Đù bị kẻ thủ khống chế, Võ Quảng luôn xác định con đường hoạt động cách mạng lâu dài của mình.
Ong cho rằng phải trang bị cho mình những kiến thức sâu rộng, toàn diện thì mới có thể chiến thắng kẻ thủ. Chính vì thế, ông đọc đủ các thể loại sách: triết học, luật pháp, văn chương, tôn giáo,. Năng lực tự học và nghiên cứu của sông được hình thành từ rit som và ông vẫn giữ được thói quen này đến tận cuối đời. 'Võ Quảng nắm khá vũng nghệ thuật văn chương, thơ phú, kể cả thơ chữ Hán.
Tự ông cũng làm một số bài thơ theo thể Đường thí và thơ mới. Có thể nói từ ngày đó, những kiến thức về văn chương và mim mồng về sáng tác đã có sẵn trong Võ Quảng và chờ ngày nớ rộ. Năm 1944, phong trảo cách mạng dâng cao, Võ Quảng quyết định thoát khỏi ch kìm kẹp của để quốc, ông trốn ra Quảng Trị để tiếp tục hoạt động. Bị mật thám Phép truy lùng ráo rit, từ Quảng Trị ông trở về Huế, chấp meng.
xây dựng phong trào, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Võ Quảng được chí định làm Ủy viên Tư pháp Thành phố Đà Nẵng, sau đó làm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Đà Nẵng. Khi Ấy ông mới 25 tuổi. Năm 1948, ông được cử là Phó chánh Tỏa án Quân sự Miễn Nam Việt Nam, rồi lâm Hội thẩm ở Tòa án nhân dân Liên khu V.
ghế qua quê nhà, tận it ự tàn phá, giết bóc của giác và nghe được biết bao gương anh dũng chống giấc, đặc biệt là sự hỉ sinh anh dũng của những thiểu niên. Tất cả đã gây cho ‘ng những cảm xúc đặc biệt, về sau được ông phản ánh trong các tác phẩm như Chổ cây đa làng, Cái Thăng. Ngoài ra, Võ Quảng còn tham gia nhiều chương như. bình dân học vụ, phổ biến chữ quốc ngữ, làm sách giáo khoa cho học sinh.Từ đó, ông có dịp tiếp xúc với nhiễu nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, Hỏa bình lập lại nhưng đất nước lại bị chỉa cắt làm hai miễn.
Năm 1955, Võ (Quang cùng gia đình tập kết ra Bắc. Cũng từ đó, một sự nghiệp mới của Võ Quảng, sự 12 nghiệp viết văn, sáng tác cho thiểu nhỉ bắt đầu. Tập thơ đầu tiên viết cho thiếu nhỉ là tập thơ Gà mái hoa xuất bản năm 1957 được đông đảo bạn đọc đón nhận. 'Nhìn vào hành trình sắng tác của Võ Quảng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ông chính là một trong những người bỏ nhiều công sức dé xây dựng nền móng đầu tiên cho nền văn học thiếu nhỉ Việt Nam.
Ông thuộc một trong những lớp người sáng lập. snên Nhà xuất bản Kim Đồng, giữ cương vị Tổng biên tập đầu tiên rồi Giám đốc Nhà xuất bản. Lúc ấy ông 37 tuổi — cái tuổi được coi là khá muộn so với người bắt đầu đến. với văn học, lại cảng quá muộn với việc sáng tác cho thiếu nhi.