CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM VỀ TIÊU THUYẾT LỊCH SỬ CUA NGUYEN TRIEU LUẬT Nguyén Trigu Luật - Cuộc đời và hành trình sáng tạo nghệ thuật |. Cuộc đ "Nguyễn Triệu Luật bút hiệu Dat Lang hay Phất Văn Nữ Sỉ, sinh năm 1903, quê làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phú Từ Sơn, Bắc Ninh (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống học hành, khoa cit. Ong là cháu 5 đời của danh sĩ Nguyễn Án, tác giả tập Tang thương ngẫu lục (cùng soạn với Phạm Đình Hổ).
Ông nội của Nguyễn Triệu Luật Tà Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản, một bặc đại nho đồng thời là một tác giả lớn của văn học thé ky 19, một đại thần triều Tự Đức. Sinh trướng trong một gia đỉnh có truyền thống như vậy, ngay từ bé, Nguyễn Triệu Luật đã được rẻn giữa một cách nghiêm khắc, lại có điều kiện tiếp xúc sớm với sách vỡ, đặc biệt là các sách lịch sử, văn chương cổ, Chính điều này đã kích thích tính thần ham hoc, ham tim hiéu trong con người nhà văn, đặc biệt là niềm đam mê đối với lịch sử dân tộc. "Nguyễn Triệu Luật tố nghiệp khoa Sử, trường Sư phạm Hà Nội, sau đó đi day nhiều nơi tại các tỉnh Tuyên Quang, Hà Nội, Hải Phòng. Đây chính là một yếu tổ quan trọng, giúp tác giả trang bị được vốn.
sâu sắc v các th ch sử, sau này được phát huy rong lĩnh vực văn chương. Cũng như nhiều thanh niền thời đại lúc bấy giờ, Nguyễn Triệu Luật luôn nung nấu lòng căm hờn đối với thực dân Pháp, muỗn đóng góp súc trẻ của mình cho đất nước. Năm 1929, ông gia nhập tổ chức Việt Nam Quốc Dân Dáng. Tổ chức này đã thu hút được đông đáo giới nhà giáo, nhà binh, công chức, học sinh, sinh viên tham gia.
Trong đó có nhà thơ Nhượng Tổng, nhà thơ Trúc Khê, nhà thơ Phạm Tuấn Tài, Hồ Văn Mịch, Nguyễn Khắc Nhu, đứng đầu là Nguyễn Thái Học. Đây là những người thuộc Nam Đồng thư xã, tổ chức tiễn thân của Việt Nam Quốc dân Đăng “Trong thời gian tham gia cách mạng, ông đã tiếp thu được nhiều tư tưởng yêu nước mới, đễ làm đầy thêm tư duy chính trị, lí luận của mình. Tháng 2 năm 1930, khởi nghĩa Yên Báithất bại, ông bị thực dân Pháp bắt giam cùng với nhiều chiến sĩ Việt Nam Quốc dân Đảng khác. Đến năm 1932, Nguyễn Triệu Luật mới được "hồi dân quản thúc” (theo cách nói của ông) đồng thời bị đuổi, không được day ở các trường công nữa.
Để kiếm sống, ông phải làm báo, viết văn và đi dạy tại trường tư Lễ Văn, Nghệ An. 1940, ông tham gia trong các tổ chức chống Phápở Hà Nội cùng các nhà văn hoạt động chính trị như Khái Hưng, Nguyễn Tuân. Sau Cách mạng thing 8 nim 1945, dng bi thuc dân Pháp bắt giam và đưa đi an tỉ. Nguyễn Triệu Luật qua đời năm 1946, hướng đương 43 ‘Tom lai, có thể thấy cuộc đời nhà văn Nguyễn Triệu Luật là một chuỗi những tháng năm thăng trầm, khổ cục, Ông sớm giác ngộ cách mạng và lần lộn ta nhiều mảnh đắt, chứng kiến nhiều mảnh đời khác nhau.
Những géng cim ha khic mà thực dân Pháp đeo lên cỗ nhân dân đã giúp Nguyễn Triệu Luật hiểu một cách. sâu sắc hơn về đất nước, con người dân tộc mình, từ đỗ mà dau đảu những nỗi niềm về nhân sinh, thời cuộc. Vì vậy, từ một nhà giáo day lịch sử, ông đã chuyển hướng trở thành một nhà văn, kết hợp những kiễn thức lịch sử học được với tư duy nghệ thuật, cái nhìn thẩm mỹ của văn chương, để viết rên những trăng iễu thuyết có giá tri đến tân ngày nay 1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật Nguyễn Triệu Luật khởi đầu con đường văn chương của mình vào năm 1935.
Khi đọc cuỗn Vuø /fảm Nghỉ của Phan Trần Chúc, ông đã nhận ra nhiều điểm bắt hợp li, những tư tưởng lệch lạc, từ đó ông đã bắt tay vào viết cuỗn Ống Phan Trần Chúc bôi nhọ quắc sử đề dinh chỉnh, trả lại sự thật lịch sử, phê phán những kẻ mượn lịch sử để bôi nhọ dân tộc. Với một vốn hiểu bi c về lịch sử dân tộc, khả năng sáng tạo đa dạng, phong phú, Nguyễn Triệu Luật tiếp tục bắt tay vào thể tải tiểu thuyết lịch sử và đem lại những đóng góp không nhỏ trong việc mỡ ra một dòng tiểu thuyết lịch sử rất có sức ảnh hưởng và đáng trần trọng. Sau đó, tiễu luận, chuyên luận, tạp luận, những bài viết ngắn trên n í đương thời nhưng hiện nay vẫn chưa sưu tằm được diy di. "Như vậy, có thể khái quát văn nghiệp của Nguyễn Triệu Luật chia thành hai dang: ~ Thứ nhất là ở dạng sách báo gồm sách viết về lịch sử, tranh luận về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử.
Đầu tiên phải kể đến 20 bài quốc sứ - một loại sách giáo khoa lịch sử được nhà xuất bản Tân Dân phát hành năm 1926. Cũng trong năm này, Nguyễn Triệu Luật cho ra mắt Tập bài thí sơ học yếu lược soạn chung với Pham Dung Am, Vũ Trọng Yên. Đến năm 1935, bài bút chiến Ông Phan Trin Chúc bội nhọ quốc sử của Nguyễn Triệu Luật được pl dân”. Có thể thấy, trong những cuốn sách và các bài viết thời kỉ đầu, Nguyễn Triệu Luật mới chỉ đơn thuần viết một cuốn sách lịch sử, các bài chuyên luận, các bài báo để diễn giải, tình bày, phân ích lại ịch sử, có kèm theo quan điểm của mình, dưới góc độ nghiên cứu, học thuật, bình luận.
Tuyệt nhiên, ông chưa có ý thức sáng tạo văn học, đưa lịch sử vào văn chương. Mãi đến một năm sau, khi tiêu thuyết lịch sử đầu tiên của Nguyễn Triệu. Luật có tên là /föm đựng người ra mắt độc giả, nhà văn mới thực sự tạo được tiếng vang trên văn đàn. Ngay từ khi tác phẩm này được in trên báo Niới “ 1936, xuất bản thành sách năm 1938, Nguyễn Triệu Luật đã thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng đương thời bởi lỗi viết khác la, độc đáo.
Sau đó, Nguyễn Triệu Luật liên tiếp cho ra đời bộ ba tác phim Ba Chiia Che (1938), Loan Kiểu binh (1939) và Chúa Trịnh Khải (1940) với phạm vi dé tai được mé rong, I ngày cảng được năng cao củng nhiều bút pháp, thủ pháp nghệ thuật riêng, độc đáo Trong sự nghiệp sáng tác của minh, Nguyễn Triệu Luật còn để lại các cuốn tiểu thuyết lịch sử hoàn chỉnh được lưu lại đến ngày nay đồ là: Ngược đường Trưởng Thi (Phé théng bán nguyệt san số 46, 1939), Bắn báo oán (1941), Thiệp chàng đãi ngỏ (In chung với Rẳn bảo oán, 1941), Bắn con yêu và hai ông dé (1943). Ngoài ra, Nguyễn Triệu Luật còn có một cuốn tiểu thuyết nữa là Chúa cuối mẻ đang in dỡ trên nguyệt san Tiểu tuyết thứ báy (từ số 1 đến số 9 tức từ số tháng 6/1944 đến số tháng 3/1945). Những cuốn tiểu thuyết lịch sử kể trên cũng là thành tựu lớn nhất trong quăng đời cầm bút của Nguyễn Triệu Luật - Thứ bai là ở dạng đăng báo, chủ yếu trên các tạp chỉ như như Nam Phong tap chi (1923) do Phạm Quỳnh làm chủ bút, tạp chí Tri tan, Tao đần tồi Phụ nữ thời đầm mà ông là chủ bút kế nghiệp nhà văn Phan Khôi trong 4 số cuỗi cùng. Đó là các loạt bài khoa học xã hội, phổ biến tâm lý học cổ các tác phẩm dịch thuật, ngôn ngữ học.
Cụ thể, trén tap cl “Triệu Luật có một loạt bài khoa học xã hội như Ở đổi liy gi lim khudy (1923), Ban góp về Truyện Kiểu (1924), Tâm lý học (kéo dài đăng rải rác suốt từ năm 1924 - 1926), Bản vẻ cách dịch các danh từ hóa học (1936). Trên tạp chỉ Tao đản, Nguyễn "Triệu Luật có một loạt bài về ngôn ngữ học, về dịch thuật, nhận xét của ông về văn chương Tân Đà - Nguyễn Khắc Hiểu, hỗi ức của ông về nhà văn Vũ Trọng Phung. 'Ngoài ra, người ta phóng đoán ống còn có rất nhiều bài viết trên các tờ báo khác, nhưng hiện nay chưa sưu tầm được đầy đủ. Bằng việc đóng góp những chuyên mục phê bình, chuyên luận có chất lượng cao, Nguyễn Triệu Luật đã đóng góp một phần không nhỏ tạo nền móng cho báo chí Việt Nam những năm đầu thể kỉ phát triển, iến báo chí thành kênh giao tiếp hiệu quả nhất để truyền đạt thông tin, kiến thức, tư tưởng đúng đi giả.
Nhìn chung, hành trình sáng tạo của Nguyễn Triệu Luật trải dài trên nhiều phương điện, vừa là nha báo, nhà giáo viết sách về lịch sử, vừa là một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, nhưng tạo được dẫu ấn trong lòng người đọc nhất có lẽ là từ các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của ông. Thông qua những tác phẩm của mình, Nguyễn Triệu Luật đã tìm lại chính xác sự thật lịch sử, xây dựng những quan điểm đúng cần trong giới nghiên cứu cũng như công chúng khi nhìn nhận một vấn để lịch sử đã qua 1. Quan niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử 1. Quan niệm về tiểu thuyết B Tiểu thuyết là thể loại ra đời muộn so với các thể loại khác trong hệ thống thể loại văn học hiện đại.
Tuy nhiên, tiêu thuyết lại đạt được những thành tựu nỗi bật, vượt trội, ma các thể loại ra đời trước đó chưa làm được. Lí do là ở chính bản thân thể loại của nó. Bakhtin thi "Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình. Nông cốt thể loại tiểu thuyết này chưa hễ rắn lại và chúng ta chưa hề dự đoán được kha năng uyễn chuyển của nó" [5, tr23].
Điều dé có nghĩa tiểu thuyết là một thể loại năng động, có khả năng thích ứng và biến đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Tiểu thuyết biến đổi không ngừng, nhiều khi nó kéo theo các thể loại khác xâm nhập vào nó. Vì th, tiểu thuyết 1l thể loại có khả năng cách tân lớn về mọi mặt. 6 Viet Nam, khái niệm tiêu thuyết được sự quan tâm rất đặc biệt của cả người sắng tác lẫn giới nghiên cứu phê bình.
Ngay đầu thế ki, nhà nghiền cứu Pham Quynh trong bài “Bản về tiểu thuyết” đăng trên Nam phong số 43 (1- 1921) .đã nhận định về tiễu thuyết: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi tra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự la tích kỉ, đủ làm cho người .đọc có hứng thú”. Tiếp sau đó, rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, quan điểm của mình về tiểu thuyết như Hoàng Ngọc Phách, Thiếu Sơn, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Hai Triéu, Nam Cao, Nguyễn Đình Thi.