CHƯƠNG 1. TIEU THUYET Y BAN TRONG ĐỒNG CHẢY TIÊU THUYẾT NW VIET NAM MANG DẦU ÁN HIỆN SINH ĐẦU THÉ KỈ XI 1. Khái lược về tư tưởng hiện sinh và ảnh hưởng của trào lưu triết học này trong văn học Việt Nam 1. Khái lược về tr trông hiện sinh và biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh đầu thể ki XXT “Thuật ngữ "hiện sinh” được biết đến kể từ lằn đầu tiên khi được J.
Sartre phat biểu trong bài thuyết trình của mình tại Paris: *Ấy là một buổi sáng mùa đông (1946), vừa thức giấc, cả thành phổ Paris thấy mình “hiện sinh”, sách báo đầy hiện sinh quyền rũ tràn phố phường, những "đám thanh niên nam nữ vui vẻ" kéo đến những căn nhà hằm ở Saint-Germain, ằm vang điện nhạc Jazz trong những trang phục mới lạ với mái tóc xöa, quần tim ống và ăn nói chào mừng phéng túng. Người ta bảo đó là một lối sống mới, là một phong trào mốt đã trở thành như một huyễn thoại” [16,t-10,11]. Tư tưởng hiện sinh không chỉ đi vào lỗi sống, mà cồn đi cả vào trong các cuộc bạo loạn của sinh viên tại Paris vào tháng Năm năm 1968, phong trào “phan văn hóa” ở Mỹ và nhiều phong trào xã hội phản ứng chống lại chủ nghĩa duy lý. Cho đến ngày hôm nay, thuật ngữ "hiện sinh” đã không còn là một khái niệm xa lạ với nhân loại, hơn thể nữa, nó đã và đang hiện hữu trong đời sống xã hội, vẫn ngày đêm thẩm thấu vào từng làn da thớ thịt của sinh thể đời sống, sâu hơn cả chiều sâu mà con người có thể tưởng tượng.
Nhắc đến chủ nghĩa hiện sinh chính là nhắc đến thân phận con người: triết học hiện sinh chỉ chú ý đến con người mà bản chất của nó ở "tính chủ thể bên trong”, ở nhân vị của nó,tức là mô tả thực trạng của nó một cách đẩy đủ nhất. Những màu sắc hiện hữu đầu tiên của trào lưu biện sinh dường như đã khởi di tử những kinh nghiệm sống mãnh liệt của châu Âu cuối thể ki XIX và đầu thế ki XX. Đó là những năm tháng hoàng kim của một Châu Âu phát triển không ngừng về mọi tit nung dng ti cing iềm n vô và bắt an. Những tến bộ của khoa họ kỹ ing nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật một mặt thúc đẫy phát triển sin x cũng đã gieo rắc mầm mồng hiém họa về tu tưởng, một ý thức hệ của xã hội phương Tây ra đời được miêu tả như thành quả của chủ nghĩa duy lý, đó là chủ nghĩa kỹ trị với quan niệm cho rằng khoa học kỹ thuật có thé giai quyết moi vin đề trong cuộc sống.
Công đồng xã hội để cao quá mức vai trò sửa khoa học kỹ thuật và dẫn đi vào lệ thuộc máy móc, công nghề. Chính Mác ngay tirdi thể ký XX đã sớm chỉ ra hâu quả tế hại của xã hội kỹ tr: “Trong thời đại chúng máy móc có một sức mạnh kỷ diệu trong việc giảm bớt lo động của con người và lâm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem lại nạn đói và tình trạng kiệt quê đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xa xưa tối nay chưa ai biết, đường như do một sức mạnh thần kỷ nào đó lại dang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật đường như đã được mua bing cdi giá của sự 8 suy đồi về mặt tỉnh thằn”.
“Tắt cả những phát minh của chúng ta và tit cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tỉnh thần, còn đời sống tỉnh thần của con người vốn đã bị tước mắt cái mặt tỉnh thần rồi nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất đơn thuần” [37. Mác không phủ nhận những thành tựu mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mang lại, uy nhiên Mác cũng sớm cảnh báo với nhân loại về mặt tri của nó. Một khi con người trở thành bằn cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ thuật khổng lỗ của xã hội hiện đại thì sự suy sụp của cá nhân là điều không thể tránh khỏi. Mác khẳng định thành tựu kỹ thuật mà loài người giành được không phải tính bằng giá trị người của loài người mà phải đánh đổi bằng "sự suy đổi về mặt tinh than”.
Không đồng tình với quan điểm của chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa hiện sinh ra đời như là một biểu hiện phản ứng mạnh mẽ, đổi lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội phương Tây hiện đại. "Chủ nghĩa hiện sinh muốn đánh thức con người thoát khỏi giấc mơ duy lý và khoa học bằng cách nêu lên ba cấp độ của tí thức: thứ nhất, khoa học thực nghiệm lấy thế giới vật lý làm đối tượng; thứ hai, tiết học hiện sinh lấy đời sống tỉnh thần làm đổi tượng; thứ ba, thần học lấy cái siêu việt và Thượng để làm đối tượng'[16,t.10,11] Nếu như các ngành khoa học chỉ xem con người là đối tượng dé nghiên cứu thì nhà hiện sinh cho rằng tâm linh của con người, hiện sinh của nhân vị đó mới chính là Tinh vực của triết học. Căn nền của hiện sinh là nhân vị, truy tìm bản thể. Các nhà tư tưởng hiện sinh lại muốn để cập đến con người như là một sinh lực tỉnh thần thực sự sống, trải nghiệm, đớn dau, so hai, dn thân.
Vì những lẽ đó mà Jean Paul Sartre (1905-1980) đã quả quyết: "Hiện sinh là một chủ nghĩa nhân ban (Existentialism is Humanism)”. Ong khẳng định nếp sống hiện sinh "có những nét đặc biết: hùng bổ, mãnh liệt, sa đọa, sống hết mình, đã gây bao nhiêu xì căng đan lạ lùng, bỡ ngỡ nhưng cũng không thiểu những vẻ chán chường, phí lý, buồn nôn. Quan điểm trên đã có sự trùng hợp với E.Mounier khi đề ra biện pháp để thực hiện một cuộc "cải cách tuệ triệt để”, đó là ông muốn làm sống lại tr tưởng của Pascal ring ching ta | những con người nhỏ bé sống trên một cái mảng nhỏ bé của đời sống bám vào một "hành tính nhỏ bé và mắt hút trong vũ trụ bao la. Con người nhỏ bé dy không chỉ tư duy mà có cả lý lẽ của trái im, ông gọi đó là "luân lý hành động hiện thực”.
Sarte cũng đã dẫn ra 12 luận để chỉnh của tr tưởng hiện sinh ((heo quan điểm của E. Mounier) li: "Sự ngẫu nhiên của đời sống con người: con người không phải là một cái gỉ thiết yếu. Nó là một cái gì thừa thi; Sự bắt lực của lý tr: lý trí của con người bit lực trong việc tìm hiểu vận mệnh của mình. Do đó, cần phải sống theo tiếng gọi sâu thấm của tâm hồn, mà Pascal gợi là tiếngnói của con tim; Sự nháy vọt của con người con người phải nỗ lực tuyệt đỉnh để tạo nên cuộc đời của mình bing cách tiến vượt, nhảy vọt, hàng giây, hang phút, mặc dầu là nhảy voi vào hư vô; Sự dòn mỏng của con người: con người sẵng một ngày là thêm một ngày tiễn gẵn đến cõi tịch diệt, tiến gần 9 hơn đến cửa mồ.
Nhưng điều đó chỉ càng khiến họ thêm khao khát sống, dù rằng trong. lòng họ không phải không tràn đầy nỗi lo âu, sợ sệt.; Ste phdng thể: con người không thể làm chủ được mình, không tự điều khiễn được cuộc đời mình; Đời người có giới "hạn, thần chết lại vội vã: Sự thật đầy bì đát của cuộc sống đó là sinh ra để rồi chết đi, Sie c6 dée va bi mat: con người có khuynh hướng sống đơn độc và chết cô độc; Sự uc vỏ: con người là một thực thể của hư vô; Sự cái hóa cá nhân: Con người phải sống. một cách đầy ý thức về vận mệnh của mình, sống một cách đặc biệt chứ không phải chỉ sống qua ngày; Vấn để nhập ;hế: con người là tự do và buộc phải thực hiện tự do đó bằng cách hành động, lựa chọn, nhập thế, ẩn đẻ rhø nhân: trong đời sống, con người không thể chỉ sống một mình mà còn là sống với người khác, đó là tha nhân, ai sống dim liéu: con người phải hành động, dám sống, dám liều theo ý mình bắt chấp ánh mắt của tha nhân” [S6,tr27] Đồi với Trần Thái Đỉnh, tong công trình nghiên cứu Triết học hiện sinh, ông đã đưa ra tám phạm trù hiện sinh cụ thể là buồn nồn, phóng thể, tinh ngộ, ưu tư, vươn lên, tự quyết, độc đáo và cô đơn, trong đó, ông đặc biệt chú trọng đến các phạm trừ: Buén n6n (tức là làm cho con người vùng day, bỏ trạng thái sự vật để vươn lên tới thiên chức làm những nhân vị tự do và tự chịu trách nhiệm); phóng lẻ (là chỉ dấu làm cho con người sống yên hàn trong tỉnh trạng sự vật của gia đình, sự vật của nhóm, của đảng, của toàn thể, của tôn giáo an nhàn); Lí: ø (chính là sự xao xuyển, băn khoăn về tương lại mơ hồ, còn bao nhiêu yếu tổ chưa hiện ra rồ rệt. Tuy nhiên, ưu tư cũng là sức chuyên động, là những cái cưa mình để vươn lên.
Cho nên có thể coi yếu tính của ưu tu la: Xao xuyén, cua minh để vươn lên và không bao giờcam chịu nằm ly ở trạng thái an cư của một sự vật. Có thể nói chính trong hành động tư quyết, triết hiện sinh chứng tỏ hiện sinh là giá trị sống, không phải là giá trị tư tưởng. Tuy vậy, nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Dũng lại cho rằng: từ vấn đề nhân vị, vấn đề trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh, một loạt các phạm trù được phát sinh từ đó để cho vấn đề con người trở thành cụ thể hơn, đễ diễn tả và biểu đạt sâu sắc hơn ác cảnh huồng của con người. Thực ra các phạm trủ chồng lên nhau, thắm vào nhau, dan xen vào nhau, nhòe ra để chỉ làm tôn lên một điều là nhân vị của con người.
Chính xác đồ là các phạm tri sau: hữu thể, hư vô, buồn nôn, cô đơn, lo âu, tha hóa, ái trách nhiệm, siêu việt, dự phóng vả thượng dé. Nguyễn Tiền Dũng đã khái quát học hiện sinh theo ý sau: "hữu thể, cái tự - nó là một thảm kịch, là phi lý thường, là hư võ cho nên rất đáng buồn nôn, con người ở đó bị tha hóa, không thể sống, không cô đơn cho nên bệnh của người là buỗn là lo âu, xao xuyến nhưng bắt chấp cái chất, cái chết của riêng ta, chấp nhân thất bại và tuyệt vọng bởi lẽ người là một hiện sinh cho nên không thể không nhập cuộc một cách tự do bằng hành vi của mình, đảm.