Chương 1. Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam ~ Thể giới Liên văn bản. Các hình thức Liên văn bản tong tiêu thuyết Nguyễn Danh Lam CChương3, Đôi thoại Liên văn bản rong tu thuyết Nguyễn Danh Lam NỘI DUNG 'CHƯƠNG L “TIỂU THUYẾT NGUYÊN DANH LAM - THẺ GIỚI LIÊN VĂN BẢN. Liên văn bản ~ Lý thuyết da thanh.
L Nguồn gắc khái niệm “Trưỏe khi khi niệm liên văn bản chính thức ra đồi, "ý thức liên văn bản”, liên văn bản" thục ra đã tổn tri ừ lâu trong đời sng văn học xưa nay, Thuật ngữ Liên văn bi (otertextuality) xu hi đầu tiên ong các bài viết Từ, Đi thoại và Tiểu thuyết (Word, Dilogue and Nove) cia la Kriseva. Mục tiêu chính của bà vig giới thiệu tr tưởng của nhà bắc học Nạa Mikhail Bakhtin, dfn với phương Tây. Trong bài bảo này, Kriseva đã đặt ra thuật ngữ 7i điền vấn bản để thay thể cho quan niệm về tính đổi ‘hoavhinh in chi thễ của Bakhủn và ngay sau đô nhân được sự hướng ứng rộng rải của các nhà li luận văn học phương Tây Kristeva cho ring ¿t kì văn bản nào cũng được cầu trúc như một bức khảm các trích dẫn, bất văn bản nào cũng là sự bắp thụ và biến đồi các văn bản khác”. Theo bà "một văn bản không phải là một khách thể mang tính cá nhân, cổ lập, ri mã là sản phẩm, của một sự biên tập văn bản hóa —lịth sử.
Bà đã đặt thuật ngữ này rong mỗi quan hệ với ce vn bin kh, Kristeva da dat vin bản nghiên cứu vào một mạng liên văn bản rộng lớn hơn bao gồm những văn bản xuất hiện từ trước cũng như những văn bản đồng đội, đề dẫn tìm thấy sự chuyển thể hoặc dấu vết của sự chuyển thể có căn nguyên từ những văn bản. Quan điểm của Kridexa là sư dần tìm dẫu vất của một văn bản, không có mục đích truy nguyên xuất xứ của chúng, thay vào đó, chỉ nhằm thể hiện sự liên kết chẳng chit, chẳng chất của văn bản này đến văn bản khác. Bởi vì, xuất phát điểm của một vẫn bản là võ danh, là vô phương tìm kiếm, và bất cứ văn bản nào cũng được tao nên như một bức tranh kham chứa đựng cả một thiên hà các trích dẫn, sự trích dẫn tự động, vô thức, bắt cứ ‘van bản nào cũng mang dẫu vết của sự hip thy và chuyển thể từ các văn bản khác. Dễ trắnh việc gắn thuật ngữ tính Liên ấn hán với những cách hiểu truyền thống về “ảnh 'hưởng/nguồn gốc”, Kristeva để nghị dùng thuật ngữ Sự chuyổz vị (transposition) đễ thay.
thế rong euin The Bounded Text, Kristeva vit, mit của nhiễu văn bản, một iên văn bản rong không gian của một văn bản đã cho”, nơi mà “mt sé phat ngôn, lẤy ra từ những văn bản khác, giao cất trung giới hô với một văn bản khác". Theo Kristeva, mot vin bin mới được tạo dụng từ diễn ngôn hầu như đã tổ tai ri. Tác giả không sng tao ra văn bản của mình từ ý nghĩ nguyễn thủy của chính mình mà đúng hơn là biển tập chúng từ những văn bản trước đó. Trong lập luận này, văn bản không phải là một đối tượng mang tính cá nhân mà là một sự biên tập văn bản văn hóa, Văn bản cá nhân và văn bản văn hỏa được tạo ra từ những chất iệu mang tính tương đồng và không th tú ch rời.
Ni cách khác, theo như lập luận của Kristeva thì n van ban mang tính chất đổi thoi của ngôn ngữ văn học. Các văn bản văn học không được xem là cái .đơn nhất và tự trị mà nó như là sản phẩm của vô số mã búa, những diễn ngôn và những. xvăn bản tồn tại trước đó. Mỗi câu từ trong một văn bản với ý nghĩa.
này là Liên văn bản và phải được đọc không chỉ như một ý nghĩa đã được đoán định tổn ti trong văn ban ma phạm ví của nô được trải đã ra ngoài văn bản rong hàng loạt các diễn ngôn văn hóa XMặc đã Kriteva nhận được sự hưởng ứng và ủng bộ của đông đảo các nh lí luận và phê bình phương Tây, đặc bit là của nhóm Tel Quel, dimg du la Philippe Sollersy nhưng lí thuyết về Lí văn bản của bả đượctiếp nhận một ch hết se dé dt tong gi tr thie Phip 6 thi dim hc bly gid. Sau ny ni vio su uy tn va ét ling tng hd cia R. Banhes và những vài báo, iễu luận của ông như: Từ tác phẩm đến văn bán (1916), Văn bản luận văn bản) (1913), Khoái cảm vấn bản (1973). thì lí thuyết Liên văn bản mới được cấp "quyển công dân hóa, thâm nhập vào đời sng khoa học và trở hình đổi tương nghiên cứu tê toàn cầu.
Che Lign van ban ké tiki duge goitén bới nhà nghiền cứu người Pháp gốc Bulgar, Julia Kristeva vio khoảng năm 1966 ~ 1967, thuyết về tính Liên văn bản cho đến nay só một lịch sử gằn nửa thể ki. Trong quá trình sinh thành và phát triển lí thuyết này đã ‘edn vào bản thân nó một phả hệ phong phố các nhà tết học, mỹ học và í luận, phê bình văn học vốn có những lập trường và cách tiếp cận vẫn để tương đổi khác biệt: cấu trúc luận, hậu/giải câu trúc luận, nữ quyền luận, phân tâm học, hậu thực dân. Điều đó cho thấy sức hắp dẫn và ính năng sản của í thuyét, đồng thời cũng gây trở ngai cho việc 0 nắm bắt và sử đụng nó trang nhiên cứu văn học. Tiêu thuyết Nguyễn Danh Lam ~ ThỂ giới liên văn bản 1.
Nguyễn Danh Lam ~ Cuộc đời và những trang viết Nguyễn Danh Lam là bút danh đồng thời cũng là tên thất của nhà văn. Anh sinh năm 1972, nguyên quán ở Bắc Ninh, hiện đang làm Biên tập viên cho báo Mực Tím, Khăn Quàng Đỏ, Nhỉ Đẳng thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Danh Lam xuất thân trong một gia dnh thường dân, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật thành phố Hỗ Chí Minh năm, 2001, Anh côn là hội viên của Hội nhà văn Việt Nam, Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Bạn nhà văn trẻ Hội nhà văn Việt Nam kha VIL “Trong cuộc sống đời thường Anh là một người phóng khoảng và cời mở, Nguyễn Danh Lam vốn là một người nghệ ĩ nhạy cảm và nhiều suy tơ, có lẫn nhà văn tâm sự về lồi uy tự của mình: “Từ úc con đã nghe “mỗi” it thân phận, nhân tình th ti, -đï nhiền là non nớc. Sau này vào đại bọ, được về thành phổ lớn, thứ sách đầu tiên tôi im du” vio đọc là tiết học, Cảm thấy nó gọi tên được nhiều điều mình từng ngủ trong đầu.
Tôi đọc nhiều năm, đã có lúc bị “ngộ triết), đọc xong là. phun ra phèo phêo (4), Cuộc sống của Nguyễn Danh Lam đã bôn ba, lu nhiều cơ cực từ thuở nhỏ, “Trong khoảng thời gian 16 tuổi, tôi sống một mình coi tẩy cafe & Dak Lak cho đến 0 tuổi. Không điền, không nước, không một tiếng người. Thâm chí nhiều khi không ăn” [46] Song chính cuộc sống ấy đã gớp phần làm nên nhing tang viet diy miu sic, thắm đằm tính nhân văn và cá tính sing tao của anh ngày hôm nay, đó cũng chính là những mạch nguồn cảm hứng vô tận.
Nguyễn Danh Lam là cây bút wom mim trên nhiều th loại như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. và đã tao đưng được nhiễu thành công nhất định trong các th loi đó. Đặc Biệt là th loại tiếu thuyết, nhà văn đã được độc giả và giới nghiên cứu ph bình quan |. Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam - Sự kết nỗi Liên văn bản Bước vào thế giới tiêu thuyết Nguyễn Danh Lam, có thể dễ dàng nhận thấy, xuyên suốt bổn tác phẩm của nhà văn là một quá trình kết nổi văn bản, là một thể giới liên văn bản.
Văn bản tiể thuyết Nguyễn Danh Lam tồn tạ trong sự liền h với văn bản khác, văn " bản sau cố sư kết nổi với văn rước. Ấn chứa trong tiêu thuyết Nguyễn Danh Lam là những mạch ngằm văn bản, những kí ức ngôn ngồ, các mô, hình tượng nhân vật và de biệt cổ sự tương giao th loi. Liên văn bản ong thể giới nghệ thuật của nhà văn được thể hiệp từ các môdp giống nhau giữa các tác phẩm.1 Liên văn bản trong tiếu thuyết Nguyễn Danh Lam nhìn từ hệ đề tài “Toàn bộ những cuỗn tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam xoay quanh những vẫn để đương dại như: tuổi rẻ, trí thức, đồng tỉnh, nạn thất nghiệp, sự tha hỗa của con người. Những sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam là sự kế thừa đề tài văn học phi lí của chủ nghĩa hậu hiện dại, luôn để cập đến những mảnh đời, những kiếp người bị xô ngã đến tận cũng số phần, bị “biển trống” cä nhân hình lẫn nhân tính.
Hầu bt các sing tác của Nguyễn Danh Lam, it nhiều chịu ảnh hưởng từ Franz Kafka ~ dng tổ của chủ nghĩa hiện sinh. Trong tác phẩm Giữa wing vay rn gian ching ta thay doe nét tương đồng với các sing tc cia Kafka khi ở đây nhà văn cũng đề cập đến kiếp người được đặt trong vòng xoáy của vũ trụ, Điểm chung của Tiểu thuyết Giữu vòng vậy trần gia và cí c sing tie Vu dân, Lâu đài của Kafka là được dặt bằng một không gian mang dim tính biểu tượng — huyền thoại và thời gian bắt định. Nếu như Giữu vùng vớy tần gian có hai biểu trợng chính là ng làng và đồng sông gắn liễn với thứ quyền lực tầng th là “họ” — những người tong làng hiện hữu qua lời kể của cô gi, không hề xuất hiện nhưng lại hiệ diện ở khắp mọi nơi lâm cho Thữe và cô gái luôn lo sợ thì trong ti thuyết 4w đi, tòa lâu đài trong làng là hình ảnh huyễn thoại về một tổ chức huyễn thoại quan liều với những sợi day vô hình đã rồi buộc cuộc đời của từng con người. “Võng vây” ở đây nghĩa là một mê cung ki ảo, nơi, một khi đã đặt chân vào, nhân vật sẽ không tìm được lỗi ra.
Nhân vật rơi vào ỉnh trang mắt phương hưởng, dùng lại giữa khúc ngoặt của chăng trốn chay này, vòng vây sẽ mổ ra một chăng mới, cũng có thể nó sẽ đưa đến điểm xuất phát ban đầu và lặp lại con đường, hành trình cứ thể nối tiếp nhau đến vô tận. Thức trong “Gilt vòng váy trằ gian" mang trên mình thân phận lạc loi, vô tôi giữa mê cung ph lí của thiết chế xã hội. Thức lạc vào cõi ma mị,dồng hình cũng những con người Không quen biết, hoàng loạn trước những thể lục vô danh, gảnh chịu những, pháp chế ph. một cách bắt ng, không tưởng.
2 -Anh lạc vào "vòng vấ của mê lộ: * Thức nghiệm ra, từ ngảy vào làng anh đã chạy.