Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam luôn khẳng định vị thế đỉnh cao của hai danh nhân văn hóa thế giới: Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) và Nguyễn Du (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX). Di sản văn học chữ Hán của hai tác giả là kho tàng nghệ thuật đồ sộ, với 105 bài thơ trong Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi và 250 bài thơ trong ba tập thi tập của Nguyễn Du. Trong khi phần lớn các công trình trước đây tập trung khai thác thể thơ Đường luật cận thể vốn chiếm tới 81,9% trong thơ Nguyễn Trãi và trên 70% trong thơ Nguyễn Du, mảng thơ cổ phong (cổ thể) lại chưa được khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống dưới góc nhìn thi pháp học hiện đại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã cấu trúc thi pháp thơ cổ phong chữ Hán của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, từ đó làm nổi bật sự kế thừa, vận động và cách tân thể loại trong tiến trình 4 thế kỷ văn học dân tộc. Mục tiêu cụ thể là phân tích 2 tác phẩm cổ phong của Nguyễn Trãi (chiếm khoảng 1,9% tổng số bài thơ chữ Hán) và 26 tác phẩm cổ phong của Nguyễn Du (chiếm 10,4% tổng sáng tác chữ Hán), tập trung vào các bình diện: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian - thời gian nghệ thuật, cùng hệ thống thể thơ, ngôn ngữ và giọng điệu.

Luận văn thạc sĩ ngữ văn chuyên ngành Văn học Việt Nam được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế vào năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Ngô Thời Đôn. Ý nghĩa học thuật của công trình được lượng hóa qua việc bao quát 100% ngữ liệu thơ cổ phong chữ Hán của hai tác giả, thiết lập khung đối sánh định lượng và định tính chuẩn xác giữa mô hình thi pháp thế kỷ XV và thế kỷ XIX. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ quy luật phát triển nội tại của thể loại cổ thể mà còn cung cấp nguồn tư liệu chuyên khảo giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học trung đại tại các trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên nền tảng lý thuyết thi pháp học hiện đại, kế thừa thành tựu nghiên cứu của các học giả lớn như M. Bakhtin, D. S. Likhachev và hệ thống lý luận thi pháp học tại Việt Nam do các giáo sư Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi xác lập. Ba khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm:

Thứ nhất, khái niệm thể loại thơ cổ phong (cổ thể). Đây là hình thức thơ không bị ràng buộc nghiêm ngặt bởi quy tắc niêm luật, đối ngẫu, số câu và số chữ như thơ cận thể Đường luật, cho phép dung nạp các dạng thức tự do như ngũ ngôn, thất ngôn, ca, hành, ngâm khúc và trường thiên.

Thứ hai, phạm trù quan niệm nghệ thuật về con người. Khái niệm này đóng vai trò hạt nhân phản ánh cách nhìn nhận, giải thích và mô tả bản chất nhân sinh của tác giả qua hình tượng nghệ thuật.

Thứ ba, phạm trù không gian và thời gian nghệ thuật (chronotope). Đây là phương thức tổ chức thế giới nghệ thuật, phản ánh cảm quan thẩm mỹ và tầm vóc tư tưởng của chủ thể sáng tạo qua các chặng đường lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của luận văn bao gồm toàn bộ 355 tác phẩm thơ chữ Hán, trong đó tập trung phân tích chuyên sâu mẫu nghiên cứu gồm 28 bài thơ cổ phong (2 bài trong Ức Trai thi tập và 26 bài thuộc Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục). Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo quy trình chọn mẫu toàn dụng kết hợp phân loại chuyên biệt, phân lập ranh giới rõ ràng giữa thể cổ phong tự do và các dạng thức bát cú, tuyệt cú quy phạm.

Hệ phương pháp nghiên cứu tích hợp bao gồm:

  • Phương pháp thi pháp học: Phương pháp chủ đạo dùng để giải mã cấu trúc văn bản nghệ thuật từ hình thức đến nội dung.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Định lượng tần suất xuất hiện của từ ngữ, thanh vận, thể loại và mô thức nhân vật, bảo đảm luận cứ khoa học xác thực.
  • Phương pháp so sánh - lịch sử cụ thể: Đối chiếu sự biến chuyển thi pháp qua 4 thế kỷ lịch sử, liên hệ mở rộng với sáng tác cổ phong của Trần Tung (8 bài thế kỷ XIII), Hồ Xuân Hương (6 bài) và Cao Bá Quát (53 bài).

Toàn bộ tiến trình nghiên cứu văn bản, xử lý dữ liệu và hoàn thiện luận văn được tiến hành trong mốc thời gian từ năm 2016 đến năm 2018 tại thành phố Huế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống văn bản mang lại ba phát hiện thi pháp học quan trọng:

Thứ nhất, có sự mở rộng vượt bậc về dung lượng và cấu trúc thể loại. Trong khi Nguyễn Trãi chỉ để lại 2 thi phẩm cổ phong tiêu biểu gồm Côn Sơn ca (thể trường thiên đoản cú) và Đề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên (thể trường thiên cổ thể), Nguyễn Du đã phát triển mạnh mẽ với 26 bài, trong đó tập Bắc hành tạp lục chiếm tỷ lệ áp đảo với 20 bài (tương đương 76,9% tổng số thơ cổ phong của ông). Đặc biệt, bài Long Thành cầm giả ca đạt độ dài kỷ lục 50 câu thơ ca hành tự sự, kèm theo lời tiểu dẫn chi tiết.

Thứ hai, bước chuyển hóa căn bản trong quan niệm nghệ thuật về con người. Ở Nguyễn Trãi, con người hiện lên với cốt cách anh hùng nhân nghĩa, hòa mình vào tự nhiên khoáng đạt (chiếm 100% ngữ liệu cổ phong). Đến Nguyễn Du, con người đời tư, con người khốn cùng và con người tài hoa bạc mệnh trở thành tâm điểm. Tác giả đã dành hơn 60% dung lượng thơ cổ phong trong Bắc hành tạp lục để khắc họa các số phận cùng khổ (như bốn mẹ con người ăn xin trong Sở kiến hành, ông lão mù hát rong trong Thái Bình mại ca giả).

Thứ ba, sự phá cách triệt để về ngôn ngữ và giọng điệu. Thơ cổ phong của Nguyễn Du sử dụng linh hoạt thủ pháp độc vận và liên vận, phối hợp nhịp nhàng thanh bằng - trắc tự do. Giọng điệu thơ chuyển biến đa thanh, từ âm hưởng triết lý, khái quát sang giọng điệu đối thoại, tranh biện và xót thương bi phẫn sâu sắc trước thực tại xã hội.

Thảo luận kết quả

Sự biến động về cấu trúc thi pháp bắt nguồn từ bối cảnh lịch sử xã hội đầy bão táp cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Khi hiện thực đời sống vượt ra ngoài khuôn khổ quy phạm của thơ Đường luật bát cú (vốn bị giới hạn nghiêm ngặt ở 8 câu 56 chữ), thể cổ phong trở thành công cụ đắc lực để các đại thi hào phản ánh sinh động số phận con người trong không gian đời thường.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự vận động lịch sử của thể loại: từ chỗ Trần Tung có 8 bài ở thế kỷ XIII, Nguyễn Trãi có 2 bài ở thế kỷ XV, đến Nguyễn Du đạt 26 bài và đỉnh cao là Cao Bá Quát với 53 bài cổ phong (chiếm 21,1% trong 251 bài thơ chữ Hán). Dữ liệu này có thể được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng số lượng tác phẩm cổ phong qua các thời kỳ, kết hợp bảng ma trận so sánh các bình diện thi pháp giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Kết quả này khẳng định vị thế của Nguyễn Du như một gạch nối nghệ thuật vĩ đại, đưa thơ cổ phong Việt Nam tiến gần tới tính chất tập đại thành trước khi phát triển rực rỡ ở nửa đầu thế kỷ XIX.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao:

Thứ nhất, tích hợp chuyên sâu mảng thơ cổ phong chữ Hán vào chương trình giảng dạy đại học và sau đại học. Cần tăng ít nhất 30% thời lượng phân tích các tác phẩm cổ phong tiêu biểu như Côn Sơn ca, Sở kiến hành, Long Thành cầm giả ca trong các học phần Văn học trung đại Việt Nam tại các trường đại học sư phạm trên toàn quốc, hoàn thành cập nhật đề cương chi tiết trong giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ hai, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu tra cứu thi pháp học văn học Hán Nôm. Đơn vị chủ trì là Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với các khoa Ngữ văn tiến hành số hóa 100% văn bản nguyên tác, bản dịch nghĩa, bản dịch thơ cùng hệ thống chú giải điển cố của 28 tác phẩm cổ phong của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, đặt mục tiêu hoàn tất trước quý IV năm 2027.

Thứ ba, mở rộng phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn học cổ điển. Các viện nghiên cứu văn học và hội đồng khoa học chuyên ngành cần thúc đẩy ứng dụng thi pháp học cấu trúc kết hợp xã hội học văn học và văn hóa học, nâng cao 40% số lượng công trình nghiên cứu về thể loại cổ thể trong giai đoạn 2025 - 2030.

Thứ tư, biên soạn tuyển tập chuyên khảo và tài liệu tham khảo chất lượng cao. Các nhà xuất bản đại học cần phối hợp với các chuyên gia đầu ngành xuất bản bộ sách phân tích thi pháp thơ chữ Hán trung đại với quy mô phát hành khoảng 2000 - 3000 bản, cung cấp tài liệu nghiên cứu chuẩn mực cho hệ thống thư viện toàn quốc trong lộ trình 2025 - 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học. Luận văn cung cấp mô hình thực hành thi pháp học chuẩn mực, quy trình khảo sát thống kê định lượng văn bản Hán Nôm và khung lý thuyết thể loại vững chắc phục vụ việc triển khai các đề tài luận văn, luận án.

Thứ tư, giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông. Tài liệu là nguồn tư liệu chuyên khảo giá trị giúp giáo viên làm sâu sắc thêm bài giảng về Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, vượt ra khỏi các phân tích quen thuộc của thơ Đường luật và thơ Nôm, nâng cao hiệu quả giảng dạy các trích đoạn văn học trung đại.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu Hán Nôm và phê bình văn học cổ điển. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu đối chiếu chính xác về thanh vận, cú pháp và giọng điệu nghệ thuật của 28 bài thơ cổ phong, mở ra hướng nghiên cứu so sánh thể loại trong khu vực văn hóa Á Đông.

Thứ tư, sinh viên đại học ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học và Văn hóa học. Luận văn hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập các học phần Văn học trung đại, Thi pháp học và Văn học so sánh, rèn luyện kỹ năng phân tích thi pháp học chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Thơ cổ phong chữ Hán có điểm gì khác biệt cốt lõi so với thơ Đường luật? Thơ cổ phong (cổ thể) ra đời trước đời Đường, không bị ước thúc bởi niêm luật, số câu, số chữ và đối ngẫu nghiêm ngặt như Đường luật (cận thể). Thể loại này cho phép mở rộng dung lượng thành trường thiên, gieo vần linh hoạt (độc vận hoặc liên vận), nhịp điệu tự do, thích hợp cho lối tự sự, kể việc và bộc lộ cảm xúc dồi dào.

Vì sao số lượng thơ cổ phong của Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập chỉ có 2 bài? Trong tổng số 105 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, 86 bài thuộc thể thất ngôn bát cú quy phạm của thời kỳ Lê sơ. Hai bài cổ phong hiếm hoi (Côn Sơn caĐề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên) xuất hiện khi tác giả cần một cấu trúc phóng khoáng, dung lượng câu dài ngắn biến hóa để tái hiện thiên nhiên khoáng đạt và bộc lộ chí hướng thanh cao.

Nguyễn Du đã có những cách tân nghệ thuật nào nổi bật trong 26 bài thơ cổ phong? Nguyễn Du đã biến thơ cổ phong thành phương thức trần thuật hiện thực xuất sắc, tiêu biểu là bài Long Thành cầm giả ca dài 50 câu. Ông đưa vào thơ những số phận nghèo khổ dưới đáy xã hội bằng cái nhìn đồng cảm sâu sắc, giải phóng kết cấu thi phẩm và tạo dựng giọng điệu đối thoại, tranh biện đầy tính nhân đạo.

Phương pháp thi pháp học đóng vai trò như thế nào trong việc nghiên cứu luận văn? Thi pháp học đóng vai trò phương pháp luận trung tâm, giúp khảo sát tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất giữa nội dung và hình thức. Phương pháp này giải mã sâu sắc hệ thống thể loại, không gian - thời gian nghệ thuật và quan niệm về con người, tránh lối phân tích xã hội học dung tục thuần túy nội dung.

Tập thơ Bắc hành tạp lục đóng góp bao nhiêu tác phẩm cổ phong và có giá trị gì nổi bật? Tập Bắc hành tạp lục đóng góp 20 bài trong tổng số 26 bài thơ cổ phong của Nguyễn Du (chiếm tỷ lệ 76,9%). Đây là tập thơ phản ánh hiện thực sâu sắc nhất trong chuyến đi sứ năm 1813 - 1814, vạch trần bộ mặt giai cấp thống trị tàn bạo và bày tỏ niềm xót thương vô hạn trước những mảnh đời bất hạnh.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 28 tác phẩm thơ cổ phong chữ Hán của Nguyễn Trãi (2 bài) và Nguyễn Du (26 bài) dưới góc nhìn thi pháp học hiện đại.
  • Công trình chứng minh bước chuyển dịch lớn trong quan niệm nghệ thuật về con người: từ con người hành đạo, hòa hợp thiên nhiên thế kỷ XV sang con người đời tư, cùng khổ và tài hoa bất hạnh thế kỷ XIX.
  • Luận văn khẳng định ưu thế vượt trội của thể cổ phong trong việc phá vỡ tính quy phạm Đường luật, mở rộng biên độ biểu đạt của ngôn ngữ và xây dựng giọng điệu đối thoại đa thanh.
  • Xác lập vị trí gạch nối lịch sử của Nguyễn Du trong tiến trình phát triển thơ cổ thể Việt Nam, tạo tiền đề cho sự thăng hoa của thể loại này ở giai đoạn Cao Bá Quát với hơn 53 tác phẩm.
  • Nghiên cứu mở ra định hướng tiếp tục khảo sát hệ thống thơ cổ phong chữ Nôm và thơ cổ phong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX trong lộ trình nghiên cứu 2024 - 2030.

Quý độc giả, giảng viên và các bạn học viên có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để phục vụ trực tiếp cho công tác học tập, giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về văn học trung đại Việt Nam.