Chương 1 THO CO PHONG NGUYEN TRAI, NGUYEN DU TRONG MACH THO CO PHONG TRUNG DAI VIET NAM 1-1. Một số vấn đề về thơ cổ phong 11. Nguần gốc của thơ cổ phong Như tên go của nó, thể cổ phong xuất hiện và định hình từ “xưa”. Việc xác định thời điểm ra đồi của th loại cổ phong cũng tổn tai nhiều ý kiến khác nhau Bùi Văn Nguyên ~ Hà Minh Đức trong Thơ cơ Liệt Nam, hình thức và thể loại cho rằng: “Thể cổ phong tức thể thơ phổ biến ngũ ngôn (5 tờ) hay thất ngôn (7 từ) có trước thơ Dưỡng luật [39, tr.
270} Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, trong 7ừ điển thuật ngữ văn lọc lại cho rằng: “Thơ cổ phong một thuật ngữ chỉ tắt cả những bài thơ cỗ được sáng tác ừ đồi Đường trở về sau mà không theo luật thơ Đường (không kểtừ và khúe)” 16, 263] Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải wong Thí pháp thơ Đường ở mục Cúc thể thơ đời Đường có khẳng định rằng: "Các nhà thơ đời Đường sử dụng ai thể thơ chí 1à Cổ thể (gồm cỗ phong và nhạc phủ) và Kim thể. Cách goi này một phần thông báo cho ta biết sự ra đồi của chúng so với đời Đường. Thơ cổ hễ ra đời sớm hơn từ đời Hán” [13 192] Tác giả Nguyễn Thái Hỏa trong cuốn Từ điển từ ừ = phong cách di pháp lọc ở mục thơ cổ phong có chỉ ra rằng: "Cổ phong trường thiên (hành). thể hành rất ph biển ở Trung Quốc, xuất hiện trước đời Đường, và các bộc thì bá đời Đường đã dũng thể này để ao nên những kiệt tác”[21,r.44, 45) Tie gi DB Dire Hiểu, Nguyễn Huệ Chí, Phùng Văn Tứu, Trin How Ta trong Từ điền văn học (bộ mới).
"Cổ phong còn gọi là cổ tỉ hoặc cỗ th tỉ là thuật ngữ dling đễ chỉ các thể thơ cổ điển ở Trung Quốc trong sự khu biệt với thơ cân thể thời 'Đường. Cổ phong bao gồm toàn bộ thơ ca ra đời trước đời Đường” [19,tr. 320] Trong cuốn 1í tận văn học do Phương Lựa (chủ biên) đã có nhận xét như. sau: “Cổ phong vốn là tên gọi của người đồi sau đối với các th thơ có trước đời "Đường, Nhưng tên ấy cũng được dùng để chỉ những bài thơ rong và sau đời Đường "mà không dùng niêm luật chặt chẽ như luật thơ Đường quy định" [4, tr 453] Từ các công trình nghiên cứu của các tác giá, chúng tôi nhân thấy hầ hết các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng thơ cổ phong xuất hiện từ trước đời nhà Đường “không theo niêm luật nhất định.
Nhu vay, o6 thể khẳng định rằng thơ cổ phong đã có nguồn gốc âu đời từ đời Hán đã được khai sinh và trên cơ sở đó nó đã có điều kiện và một môi trường tiế thuận lợi để phát iển ở đời Đuờng. Chính vì vậy, nhiều thi sf nhà Đường đĩ viết những ải thơ cổ phong rắt nổi tếng như. Nguy ha de ude cia Li Bach, Vong nhac, Binh sa hành của Đỗ Phủ. Thơ cổ phong Việt Nam không chỉ xuất hiện trong văn học chữ HHãn mà nó côn xuất hiện trong văn học chữ Ném.
Tit iệcìm hiễu về nguồn gốc của thơ gỗ phong giúp chúng tôi có th hiểu hơn v sự ra đời cũng như quá tỉnh bình thành và pháttiển của thơ cổ phong rong nền văn học rung đại Việt Nam, 1. Khái niệm thơ cỗ phong. Trong quả trình nghiên cứu về thơ cổ phong chúng tôi nhận thấy rằng thơ cổ phong còn có nhiễu khái niệm khác nhau, cũng như tên gọÏ của nó vẫn chưa có sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu. Để phần nào hiểu hơn về thể thơ cổ phong, chủng tôi đưa ra một số quan niệm của các nhà nghiên cứu, giúp có cái nhìn bao cất, toàn diện hơn về th loại này.
Bùi Văn Nguyên Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại. triều ả cổ phong: Người ta gọi thể thơ cỗ phong hay gọi tắt à thể cổ phong tức thể thơ phổ biển ngũ ngôn (Sti) hay thất ngôn (7 từ ) có trước thơ Đường luật, thể thơ này chỉ cần có vẫn hoặc bằng hoặc rắc mà không cần đối nhan, không cần theo một niêm luật bằng trắc nhất định;lối câu phổ. là bốn câu (tuyệt cú), tám câu (bát e6) và trường thiên (hành); thơ cỗ phong còn có thể lục ngôn nhưng ít dùng.[ 39, tr213, 214] Dương Quảng Hàm trong Liệt Nam vấn học sử yến định nghĩacổ phong: "lối này chỉ có sổ chữ trong câu là nhất định (hoặc ngũ ngôn hoặc thất ngôn); ngoài ra, Không phải theo th lệ chất chẽ như lỗi Đường lut.không hạn số câu, cứ tự bổn câu trở lên, muốn làm dài ngắn bao nhiêu cũng được”, những bải dài quá 8 câu tha ngôn hoặc quá 16 câu ngũ ngôn gi là rùng tên [15 tr. 117] Bùi Ky trong Quốc văn cụ thể phân bit hai thể thơ Hán văn gồm cổ phong và Đường luật bên cạnh các lối ‹ñơ: tứ tuyệt, trằng thiên, thủ vĩ ngâm, liên hoàn, B bầu, lục ngôn thể, các bin thể của thơ gồm mình, tâm.
Trong đó, cổ phong "là lỗi văn có vn mà không đối nhau. Nêu có đối nhau là tìy ý của nhà làm văn, không phải là một luật nhất định. Cổ phong không có niệm luật, không ban edu, tw bin clu cho đến bao nhiều câu cũng được”; có lỗi ngũ ngônthắt ngôn độc vận hoặc ngũ ngôn thất ngôn liên vận [30,tr36, 37] Tác giả Đỗ Đức Hiểu rong cuỗn Từ điển văn ọc trong mục Tơ Đường: “Các nhà thơ Đường sắng tác theo ba thể chính: luật thí, cổ phong, nhạc phú (có người eho nhạc phủ cũng là một dạng của cỗ phong) [19, tr. 690] "Nguyễn Thái Hòa tong cuốn Tử điển t từ phong cách hỉ pháp học dã phân bit về thơ cổ phong như sau: “Cổ phongcòn cổ tên gọi là cổ thể do các nhà thơ đời Đường soi để phân bit với ác thể Đường luật, lú bấy giờ được gọi là cận thể" (21, tr 43] Trần Đình Sử trong Máy vấn dé thí pháp văn học trung đại Việt Nam kể tên các thể thơ trữ tình đời Lý - Trằn và nhà Lê mạt - Nguyễn thể kỷ XVIII ~ XIX như sau: “Theo Thơ vấn Lý - Trần (ba tập đã công bổ), thì có hơn 200 bải tuyệt cú, hơn 300 bài thất luật, phần còn lại chía cho các thể thơ ngũ tuyệt, ngũ luật, trường đoản, cú, nhạc phủ, cỗ phong, lục ngôn, tứ ngôn.Các thể thơ chữ Hán được sử dụng, tất đa dạng: ngoài thất luật, tuyệt cú ra, các thé ngũ ngôn, cổ phong, ca hành đều được sử dụng." [S4, 168, 169] Trong cuốn Tie dién văn ñọc (Bộ mới) trong mục Thơ cổ phong đã đưa ra nhận định như sau: Thơ cỗ phong không có quy định về cách luật như các thể thơ đời Đường nghĩa là không có niêm, luật, đối.thơ cỗ phong không giới hạn về độ dài, bài thơ từ bốn câu trở lên, muốn dài ngắn bao nhiêu tùy tác giả, cũng có bài làm sấu câu, hoặc 12 câu; những bà thất ngôn dã quá § cân, bài ngữ ngôn đi 16 câu gọi là trường thiên, những bài làm theo thể hành có độ dài khá lớn.
số chữ trong câu cũng được sử dụng khá linh hoạt có thế toàn bài theo thể tứ ngôn, ngũ ngôn, lục ngôn, hoặc thất ngôn, cũng có th sử dụng những câu dài, ngắn khác nhau trong cũng một bãi” và cuỗi cũng tác giá đi đến kết luận “ Thơ cỗ phong là chỉ các thể thơ không bị cầu thúc vào vẫn, niêm, thanh điệu và đối ngẫu". 20] “Tác giả Nguyễn Thi Bich Hai trong Thi php ;hơ đường cũng khẳng định thơ cô thể có hai dang: cổ phongvà nhạc phủ. Trong bài viết nhà nghiên cứu chỉ rõ: Thơ cô phong không có luật lệ nhất định không hạn định về số câu trong bải và số chữ trong cầu cũng tương đối tự do uy ring nm cht va bay chữ nhưng cũng có co giản, dao động quanh cái định số hoặc bảy đó, Cách gieo vẫn cũng rất nh hoạt. Có thể “ dũng độc vận cả bài (cá bãi chỉ có một vẫn), liên vận (nhiễu vẫn nối nhau), có thể không hiệp vẫn ở tùng bộ phân, có thể dùng vân chính, vận thông hay vận chuyển “Thể này không quy định niêm luật và cũng không cần đối ngẫu.193, 193] ‘Tie giả Đào Duy Anh trong cuốn Từ điển Hiền Liệt xét về mặt chữ nghĩa “rong cổ phong, chữ cổ cố nghĩa là đời xưa - xươ cũ [2, tr112], chữ phong có nghi là phong cách, thể cách.
Vậy cổ plong lä phong cách cổ, mt tiễ cách trong phép làm thơ, không hạn định ngũ ngôn hay thắt ngôn, và cũng Không họn định âm, Jud, bing, trắc |3, 114]. Còn tong cổ thể chữ thể có nghĩa là th loại. Như vây, cổ ti là thể xưa “rong các công tình nghiền cứu về thơ cổ phong hầu hết các nhà nghiên cứu đều quan niêm "cổ phog” và “cổ thé” tuy khác nhau về tên gọi nhưng thực chất chỉ là mộc Trong cuốn Lí lần văn học do Phương lưu (chủ biên) đã nêu 7hơ cổ phong côn gọi là thơ có thể (thể xưa) đề so sánh với thơ cận thể [36, tr. “Tác giả Bài Văn Nguyên rong cuỗn Từ iệu tham Khảo văn học Việt Nam đã đì đến kết lun: “Thơ cổ phong cũng như dân ca không hạn định số câu, có th ít nhất là ai hoặc bốn câu, hoặc sáu câu, tâm, mười câu hoặc nữa là rất nhiễu câu.
Tuy nhiên, th cổ phong phổ biển nhất là thể bồn âu, tám câ và th hành” [38,299] “Theo quan niệm đó, tác giả Trần Thị Hoa Lê trong bài viết Thơ cổ phong chữ: Hắn của Nguyễn Du và cuộc đãi oại trường thiên về nhân thể đã cho rằng “cô hề kinh dụng cổ phong tương tự “thơ tơ do” hoặc giả như "hơi in xuôi”/"trường cá” thời hiện đại, có vị tí độc lập bên cạnh lụ bát, luật th hay tuyệt cũ. Tuy nhiên, ranh giới giữa cổ phong và một số thể (thơ) liên quan như nhạc phủ, tuyệt cố, trường thiền, a, hành, ngâm. không phải luôn được phân định thật rõ rằng từ giác và thống nhất trong q Hình sắng tác của người xưa cũng như trong sự thường thức/phê bình của người nay, Thục tế à, quan niệm về cổ phong ngây cảng được "mở rộng hơn, bao chứa nhiều hơn các tiêu loại thơ “ty do” khác (đạc biệt là thơ có nguồn gốc dân gian) thay vì chỉ gầm ai thể ngũ ngôn và thất ngôn” [76] Thông qua quá tình tìm hiểu về những quan niệm cũng như các định nghĩa "mà các nhà nghiên cứu đưa ra. Chúng tôi thấy rằng các định nghĩa về thơ cổ phong chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, nhưng bên cạnh đó những đặc điểm.