phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc triển khai thành ba chƣơng. Trong đó, chƣơng 1 tập trung khai thác những vấn đề chung làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Chƣơng 2 và chƣơng 3 tập trung nhận diện, phân tích, đánh giá các phƣơng diện tiêu biểu về mặt thi pháp trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc. Chƣơng 1: Vấn đề thi pháp học và đời văn Bình Nguyên Lộc (27 trang: từ trang 14 đến trang 41).
Chƣơng 2: Thi pháp nhân vật và thi pháp cốt truyện trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc (33 trang: từ trang 42 đến trang 75). Chƣơng 3: Thi pháp không gian, thời gian và thi pháp ngôn từ, giọng điệu trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc (35 trang: từ trang 76 đến trang 111). 13 Chƣơng 1 VẤN ĐỀ THI PHÁP HỌC VÀ ĐỜI VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC 1. Những vấn đề chung về thi pháp học 1.
Khái niệm thi pháp và thi pháp học Thuật ngữ “thi pháp học” là cách gọi của hƣớng nghiên cứu hiện đại, Ngay từ thời cổ đại Aristote đƣợc xem là ông tổ của thi pháp học với công trình Nghệ thuật thơ ca (tiếng Hy Lạp là Poetica). Tác phẩm ra đời cách đây 2.400 năm là một công trình có ý nghĩa rất lớn, khi mà ở ngay thời cổ đại nhà triết học Aristote đã đƣa ra những hình thức đặc sắc riêng cho bi kịch, hài kịch. Các thuật ngữ của Nga, Anh, Pháp, nhƣ “poetika”, “poetics”, “poétique” thƣờng đƣợc dịch là “nghệ thuật thi ca”, “thi nghệ”, “thi pháp”, “thi pháp học”. và là thi pháp khi cần nhấn mạnh tới tính chất lý luận về văn học, bình diện nghệ thuật của các sáng tác văn học.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thi pháp và thi pháp học trong giáo trình văn học của Lê Ngọc Trà quyển Lý luận và văn học, xuất bản năm 1990 cho rằng: “Thi pháp là hệ thống các phƣơng tiện, cách thức thể hiện và tổ chức ý thức nghệ thuật trong sáng tạo văn chƣơng” (Lê Ngọc Trà, 1990, tr. Nguyễn Văn Hạnh đƣa ra một định nghĩa rất rộng về thi pháp trong quyển Mấy vấn đề về ngôn ngữ học và văn học: “Thi pháp là nghệ thuật thi ca, nói một cách chặt chẽ và khái quát hơn, là hệ thống những nguyên tắc chỉ đạo quá trình sáng tác và xây dựng tác phẩm văn học bao gồm những nguyên tắc nhận thức và thể hiện cuộc sống một cách nghệ thuật, theo qui luật của cái đẹp, qua việc lựa chọn đề tài, xác định và soi sáng các chủ đề, khai thác cốt truyện, xây dựng hình tƣợng, nhân vật, tính cách, sử dụng và sáng tạo loại thể, ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật khác, xuất phát từ quan niệm về bản chất và chức năng của văn học, cách thức xử lý vấn đề kế thừa và cách tân, quan hệ tác giả, tác phẩm và ngƣời đọc…” (Nguyễn Văn Hạnh 2002, tr. 14 Đƣợc xem là một trong những nhà nghiên cứu có công đƣa thi pháp học vào Việt Nam từ những năm 1980, Trần Đình Sử đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thi pháp học ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu thi pháp của ông vừa mang tính ứng dụng, vừa mang tính thực tiễn nhƣ giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp Truyện Kiều.… Theo Trần Đình Sử, danh xƣng “thi pháp” có cội nguồn từ Trung Quốc, từ các học giả đời Tống trở đi đã nói tới.
Trần Đình Sử đƣa ra ví dụ nhƣ một số cuốn sách nhƣ Thi pháp chính tông (thế kỷ XIII), Thi pháp chính luận của Phó Nhƣợc Kim (Thế kỷ XVI). Với giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử đƣa ra hai cách hiểu về thi pháp nhƣ sau: “Một là, hiểu thi pháp nhƣ là nguyên tắc, biện pháp chung làm cho văn bản, phát ngôn trở thành tác phẩm nghệ thuật.… Hai là, hiểu thi pháp nhƣ là những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật cụ thể tạo thành đặc sắc nghệ thuật, của một tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lƣu… cả hai cách đều có chung mục đích khám phá các nguyên tắc phổ quát hoặc cụ thể, lịch sử làm thành nghệ thuật” (Trần Đình Sử, 2001, tr. Ngoài ra các nhà nghiên cứu nhƣ Phạm Ngọc Hiền (trong công trình Thi pháp học) và Hoàng Trọng Quyền (trong công trình Giáo trình thi pháp học) cũng đã đƣa ra những định nghĩa và kiến giải về thi pháp và thi pháp học. Trong đó, đáng chú ý là công trình của Hoàng Trọng Quyền đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về thi pháp học.
Nhìn chung lại, các ý kiến của các nhà nghiên cứu, mặc dù cách định nghĩa có khác nhau nhƣng đại đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: thi pháp là hệ thống nghệ thuật của một hiện tƣợng văn học và thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu hệ thống nghệ thuật của hiện tƣợng văn học. Hay nói một cách cụ thể hơn thì thi pháp là một hệ thống những yếu tố hình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng tạo nên một thế giới nghệ thuật nhất định. Giữa thế giới nghệ thuật và thế giới thực tại là sự ảnh hƣởng lẫn nhau dù vẫn có sự khác biệt, cho nên trong thế giới nghệ thuật cũng có con ngƣời, không gian, thời gian, đồ vật, sự kiện, ngôn ngữ có thể bắt nguồn từ hiện thực, sau đó đƣợc nhà văn nhào nặn theo ý muốn, quan điểm chủ quan của nhà văn mang tính chất hƣ cấu, tái tạo bằng các biện pháp nghệ thuật. Một số nét về thi pháp học ở Việt Nam Thi pháp học là ngành nghiên cứu văn học có từ lâu đời; phát triển qua năm tháng, hình thành nên nhiều giai đoạn, nhiều chặng đƣờng.
Cùng với thời gian, thi pháp học ngày càng hoàn thiện về cách tiếp cận, hƣớng nghiên cứu. Ngày nay thi pháp học trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu văn học có sức ảnh hƣởng mạnh mẽ ở thế kỉ XX. Nhìn lại quá trình phát triển của thi pháp học, có thể thấy thi pháp học đã phát triển qua hai chặng đƣờng lớn: thi pháp học cổ điển và thi pháp học hiện đại. Thi pháp học cổ điển xuất hiện với tƣ cách là môn khoa học nghiên cứu các phƣơng tiện biểu hiện nhƣ thể loại, ngôn từ.
Thi pháp học cổ điển mới chỉ dừng lại ở cái vỏ hình thức bề ngoài, chƣa đi sâu khám phá bản chất của văn học, sự gắn kết giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học. Thi pháp học hiện đại - Thế kỉ XX với những chuyển biến dữ dội về lịch sử - xã hội đã trở thành dấu mốc cho sự phát triển của thi pháp học. Xuất phát từ mong muốn tìm ra bản chất của các vấn đề nội dung và hình thức của các tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu đã lần lƣợt khảo sát tìm hiểu văn học trên các phƣơng diện chất liệu, hình thức, cấu trúc, ngôn ngữ văn chƣơng; nghiên cứu văn học thông qua văn bản, các nguyên tắc mã hóa và tiếp nhận văn bản nghệ thuật. Từ đó thi pháp học hiện đại đã làm phong phú, đa dạng thêm thi pháp học truyền thống, đem đến các cách tiếp cận mới đối với văn học trên cơ sở nhiều trƣờng phái thi pháp học khác nhau.
Ở Việt Nam, thi pháp học có mặt khá muộn, khác với một số nƣớc phƣơng Tây phải đến những năm 80 trở lại đây thi pháp học mới thu hút đƣợc sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và mới lác đác xuất hiện một số công trình, bài viết theo hƣớng này. Nhìn sơ qua về bức tranh toàn cảnh khái quát về sự phát triển của thi pháp học ở trên, có thể thấy thi pháp học ở Việt Nam có nguồn cội từ thi pháp học hiện đại trên thế giới. Thi pháp học ở Việt Nam xuất hiện muộn hơn so với thế giới và còn non trẻ. Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng thi pháp học Việt Nam đã và đang có những bƣớc đi khá vững vàng trong quá trình hình thành và phát triển của mình.
Thời trung đại nền văn hóa Việt Nam chịu sự tác 16 động không nhỏ từ quốc gia Trung Quốc. Không những bị ảnh hƣởng về thể loại mà văn học Việt Nam thời kì này còn chịu sự chi phối của các quan niệm nghệ thuật về thi ca du nhập từ Trung Quốc. Thi pháp học cổ điển của Trung Quốc với quan niệm “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” trở thành khuôn mẫu cho việc sáng tác, phê bình. Đến cuối thế kỉ XIX, quyển Thi pháp nhập môn (Bàn về thơ Annamite) của hai tác giả Thế Tải và Trƣơng Minh Ký đƣợc nhà in Thƣơng Mãi Rey xuất bản.
Với nội dung là dạy về luật thơ thất ngôn, cuốn sách này trở thành cuốn sách về thi pháp học đầu tiên đƣợc xuất bản tại Sài Gòn. Cuốn sách mở đƣờng cho sự phát triển ban đầu của thi pháp học ở Việt Nam. Nhƣng đây vẫn là tìm hiểu thi pháp học theo cách nhìn cổ điển. Tại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhiều công trình lý luận phê bình ứng dụng các học thuyết du nhập từ phƣơng Tây xuất hiện.
Và những bƣớc thăng trầm, biến đổi của thi pháp học Việt Nam chịu sự chi phối của thi pháp học thế giới. Giai đoạn 1945 - 1975, ở miền Nam, các quan niệm thi pháp trƣớc đó tiếp tục đƣợc duy trì, đồng thời các trƣờng phái thi pháp hiện đại từ Âu – Mỹ bắt đầu du nhập vào. Trong các công trình nghiên cứu, các sách đƣợc xuất bản, chủ nghĩa hình thức khẳng định rõ vị trí của mình. Miền Nam trƣớc 1975, do có điều kiện tiếp thu lí luận, phê bình văn học phƣơng Tây khá tự do, nên đã có một số công trình lí luận của Nguyễn Văn Trung, Trần Thiện Đạo, một số công trình nghiên cứu thú vị của Trần Ngọc Ninh, Bùi Hữu Sủng, Lê Tuyên, Huỳnh Phan Anh, Đặng Tiến… Sau 1954 ở miền Bắc nói riêng và sau 1975 trên cả nƣớc Việt Nam nói chung, chủ nghĩa hình thức không còn giữ vị trí độc tôn, thay vào đó phƣơng pháp xã hội học (hay còn đƣợc gọi là phƣơng pháp văn hóa – lịch sử) đƣợc coi trọng, đề cao.
Cùng với bƣớc tiến của lịch sử dân tộc, văn học chủ yếu xoay quanh các nội dung về chính trị, đạo đức, cuộc sống của con ngƣời trong chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa.