mở đầu cho dòng Thiền Ti Ni Da Lưu Chi vào Việt Nam “Đây là một Thiền phái rat có tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biéu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo vừa ool biểu lộ được đời sống thực tế và don giản của quan chúng nghéo khé”'. Dòng Thiền Ti Ni Da Lưu Chi ton tại và phát triển từ năm 580 — 1216, truyền thừa được 19 thế hệ, có những Thiền sư của Thiền phái này đã nhập thế tích cực giúp đời: Thiền sư Định Không, Trưởng lão La Quý An, Thiền sư Vạn Hạnh, Minh Không, Bảo Nghiêm. Khoảng 300 năm sau vào thế kỷ thứ IX, Việt Nam xuất hiện đạo Thiền theo hướng Trung Quốc truyền qua, đó là dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Dòng Thiền Vô Ngôn Thông trải qua 15 thế hệ với 40 vị truyền thừa ké đến một số Thiền sư có ảnh hưởng lớn tới thời cuộc bấy giờ: Định Hương, Khuông Việt, Viên Chiếu, Mãn Giác, Không Lộ, Thường Chiếu.
Đến thời Lý Thánh Tông, vị vua nằm mộng xây chùa Diên Hựu đã ' Nuyễn Lang, Việt Nam phật giáo sử luận 16 thành lập Thiền phái Thảo Đường. Với sự ra đời và phát triển của ba dòng Thiền, dân tộc Việt Nam được thừa hưởng những tinh hoa của tư tưởng Phật giáo Thiền tông truyền vào kết hợp với tinh thần yêu nước, yêu dân, doan kết tự cường. Những Thiền sư đại diện cho các dòng Thiền đó thé hiện tinh thần Thiên tông với sự truyền giáo đến các đệ tử của mình bằng những bài thi kệ nồi tiếng, những bài thi kệ đó ton tại trong hệ thống văn thơ Việt Nam như những tác phẩm văn học Phật giáo chói sáng của thời kỳ văn học Lý - Trần, nó không chỉ mang ý nghĩa răn dạy, chỉ dẫn các đệ tử mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc, bên cạnh cảm thức tôn giáo của mỗi bài thi kệ là hồn cốt của dân tộc Việt trong đó. Những bài thơ chứa đậm tinh thần Phật giáo cùng với văn phong tính cách của người Việt tạo nên những nốt thăng, nốt trầm của bản nhạc văn chương Thiền đại đồng thuần Việt.
Đến thời Trần Nhân Tông, Phật Giáo hoàn toàn trở thành quốc giáo, bởi chính vị hoàng đề minh tuệ này đã trở thành Hương Vân Đầu Đà Trúc Lâm Yên Tử. Ngài được tôn xưng là Phật Hoàng, bên cạnh những triết thuyết hoằng pháp than dân, Phật Hoang còn dé lại những bài thơ, bài phú mang chất Thiền tông rõ nét, trong những bài thơ phú đó, tư tưởng tùy duyên, hòa quang dong trần, vô sở đại, được ngài bộc lộ. Dé có được một Phật Hoàng của Trúc Lâm, không thé không nói tới người thầy mà chính Trần Nhân Tông thừa nhận, có ảnh hưởng vô cùng lớn trong con đường ngộ đạo của mình đó là Tuệ Trung Thượng sĩ. Tuệ Trung Thượng sĩ - ngọn đuốc sáng của Thiền tông thời Lý - Tran.
Từ hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh ra đời của các dòng Thiền, thời đại Lý - Tran với hệ tư tưởng xuyên suốt, trải dai một mau sắc Phật giáo. Không thé phủ nhận trên con đường Phật giáo trở thành quốc giáo thì Nho giáo, Lão Trang luôn song hành, đỉnh cao của sự dung hòa đó là hệ thống tam giáo đồng nguyên, trong phương thức trị nước an dân của các bậc hoàng dé. Khi Phật giáo chủ đạo, khi Nho giáo lên ngôi, nhưng những hệ tư tưởng ngoại bang đó 17 vào Việt Nam, đã hòa đồng trong dòng chảy của tinh thần yêu nước thương nòi của người Việt. Không còn sắc diện của Phật giáo Trung - Ấn, không còn Nho giáo, Lão giáo thuần Trung Hoa.
Đến Việt Nam, kết hợp với cung cách và tâm tính của người Việt, các luồng tư tưởng đó đã tồn tại theo âm hưởng của văn hóa dân tộc Việt, đã tạo ra những thành tựu trong văn học. Kiều Thu Hoạch khăng định: “ Thiền sư Lý - Trần tỏ ra rất sở trường trong việc hình tượng hóa giáo lý nha Phật” [25]. Qua những bai thơ Thiền, những bai phú, các Thiền sư vẫn dữ nguyên khí chất truyền đạo của mình, gợi mở cho người tiếp nhận tự khai sáng tâm siêu việt của mình. Tuy nhiên trong một số những bài thơ mang đậm chất Thiền tông, một số bài thơ vẫn có hơi hướng của Nho - Lão.
Sự kết hợp tinh tế đó, là sản phâm đặc biệt mang tâm hồn của người Việt. Phải nói răng trong giai đoạn Phật giáo nở nộ này, để trích cú ý nghĩa những câu kinh, để truyền giảng về giáo lý của Phật giáo, với phương trâm “di tâm truyền tâm” han chỉ có những câu thơ Thiền là hàm ý đủ nhất, vừa ngăn gọn, vừa sâu xa, vừa nói hết được đạo lý lại không mắc vào sự diễn giải dễ nhằm lẫn khái niệm. Văn học có vai trò đáng ké dé các Thiền sư qua đó bộc lộ tâm đạo của mình. Văn học giai đoạn này, có vai trò chuyên trở tư tưởng của các Thiền gia tới người tiếp nhận, những câu thơ miêu tả về thiên nhiên, về thế sự hay chính là bày tỏ tư tưởng thâm sâu của sự chứng ngộ, cách tu tâm của bậc trí giả.
Với bút pháp khi tả cảnh, khi gợi mở nội tâm, những câu hỏi tu từ bỏ lửng. Giá trị thâm mỹ trong mỗi bai thơ Thiền thể hiện qua cảm xúc của thi nhân trước thiên nhiên vạn vật trước thời cuộc ví như “Thị đệ tử” của Thiền sư Vạn Hạnh, “Ngôn hoài” của ngài Không Lộ, hay tiêu biểu có “Cáo tật thị chúng”, Mãn Giác Thiền sư, “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông, và không thể không nói đến những bài thơ Thiền của Tuệ Trung Thượng sĩ. Trong những bài thơ Thiền của Tuệ Trung Thượng sĩ nói riêng 18 của các Thiên sư Lý - Trân nói chung cảm thức tôn giáo hòa quyện với giá tri nhân văn, vừa răn dạy người vừa giáo hóa nhưng không khô khan, nhẹ nhàng, đơn giản sâu sắc, luôn dat tới cảnh giới tot đỉnh của nhận thức dé người tiêp nhận tự khai ngộ. Đội ngũ sang tac Tôn giáo là hệ thong giáo lý kinh điển, tuy nhiên những Thién sư, các tác gia văn học Lý - Trần bàn về hữu vô, sinh tử, niết bàn qua những áng văn thơ.
Trong mỗi bài thơ Thiền, thé hiện sự lắng đọng cảm xúc và truyền tải nhiều luận đàm về cuộc sống. Đội ngũ sáng tác họ là ai? Là những nhà tu hành, hoàng thân quốc thích hay những cư sĩ an ban lạc đạo. Tat cả họ đã mang tới cho thơ văn Lý - Trần những sáng tác văn học tiêu biéu thể hiện hệ thống tu tưởng cho cả thời đại về giáo lý về thẩm mỹ văn chương. Người Việt Nam với bản lĩnh độc lập tự cường, cùng với tính uyén chuyền của cu dân lúa nước phương nam, nên bat kỳ một học thuyết nao vào Việt nam đều phục vụ đạo yêu nước yêu dân của dân tộc.
Phật giáo khi vào Việt Nam cũng ảnh hưởng và chịu sự chi phối của quy luật đó. Với tính cởi mở, quảng dai quan chúng, với hệ thống giáo lý phá chấp triệt dé, tinh thần đốn ngộ tự tại, Phật giáo bắt gặp được những luồng tu tưởng vốn có, kết hợp với tín ngưỡng dân gian, dung hợp với các hệ tư tưởng khác như Nho giáo, Lão Trang tạo nên một diện mạo riêng cho đạo Phật Việt Nam. Phật giáo Thiền tông thời Lý - Trần tạo cho mình một vị thé đặc biệt trong dòng chảy lich sử của dân tộc Việt. Sự du nhập Phật giáo từ An Độ, Trung Quốc với hệ quả là các dòng phái, Vô Ngôn Thông, Ti Ni Đa Luu Chi và Thao Đường, hình thành phát triển đã mở ra một thời kỳ nở rộ của Thiền tông, cùng hệ thống các kinh điển truyền thừa các tác giả văn học Phật giáo xuất hiện với những bài thi kệ nói lên sự vô chap, giáo truyén sự đôn ngộ, và những nguyên 19 tắc của quy luật sinh tồn.
Hệ thống những bài thi kệ đó, là sản phẩm tất yếu của một thời kỳ Thiền tông đơm hoa. Trong hệ thống văn học Việt Nam có thể nói, thời đại văn học Lý - Trần là thời đại bùng nỗ của các Thiền sư xuất gia và tại gia. Từ nhà tu hành đến bậc quan lại, hoàng dé, tinh than Phật giáo thấm sâu trong mỗi dòng tư tưởng của họ qua các bài thi kệ. Tuy Phật giáo dường như đã trở thành một hệ tư tưởng chính thống trong xã hội thời Lý — Trần, nhưng Nho giáo và Lão giáo cũng không bị lu mờ.
Thời kỳ này hiện tượng tam giáo đồng nguyên hiện tiền rõ nhất, hòa quyện nhất và thông đạt nhất. Nho giáo với đặc quyền riêng của mình vẫn giữ một vi trí tối cao trong phương pháp “trị an” của các hoàng dé thời đó. Nho giáo có những tôn chỉ riêng trong hệ thống tư tưởng mà các vua quan đời Lý — Trần sử dụng như một cách thức trị quốc, tuy nhiên dé “an dân” và hướng lòng dân theo thì các vua triều Lý đặc biệt là đến triều Trần dùng Phật giáo để truyền bá tư tưởng của giai cấp thống trị. Những Thiền sư, quốc sư ra giúp vua gây dựng cơ đồ như Vạn Hạnh, Khuông Việt, Mãn Giác, Không Lộ, đến những dé vương Ly Thái Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ.
Họ tiêu biểu cho những con người tham vọng “sido dân” bang Phật giáo, và tìm đến một phương pháp chứng ngộ của riêng mình. Hệ thống đội ngũ sáng tác giai đoạn này thê hiện thái độ yêu nước, đoàn kết toàn dân. Tiên phong trong vấn dé này phải kể đến Thiền sư Vạn Hạnh, người đã có công phò tá và lập ra triều Lý. Với những bài thơ, những bài sắm vi thé hiện con mắt thông tường trước thời cuộc của ngài.
Bài kệ : Thị đệ tử, trước khi viên tịch, Thiền sư Vạn Hạnh đọc cho các đệ tử nói về sự sinh diệt hằng thường, nói về cuộc đời thịnh suy, hay “Yết bảng thị chúng”, một cách thông báo với toàn dân về sự sup đồ của nhà Tiền Lê, va sự xuất hiện của nhà Lý. Qua những bài sam vĩ đó thấy được sự man tuệ và nghệ thuật chính trị của Thiền sư. Hay đến một loạt các tác gia văn học Lý - Trần tiêu 20 biểu cho tinh thần doan kết tự cường, xây dựng một quốc gia thanh bình trên phương châm đạo và đời song hành. Thánh đăng ngữ lục là tác phẩm viết về cuộc đời hành trì và tai năng cua năm vi hoàng dé triều Tran, Trần Thái Tông, Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông.