Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại", chuyên ngành Triết học (mã số: 9 22 90 01), được nghiên cứu sinh Trần Thị Nhẹn thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Trần Nguyên Việt vào năm 2020.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định thế kỷ XIX là thời kỳ triều Nguyễn thiết lập nền quân chủ trung ương tập quyền chuyên chế, trong đó Nho giáo được đưa lên vị trí độc tôn và giữ vai trò bệ đỡ hệ tư tưởng nhằm củng cố địa vị thống trị và duy trì trật tự kỷ cương xã hội. Nhà nước phong kiến triều Nguyễn vừa phát huy vị thế Nho giáo vừa chú trọng vận dụng lý luận của học thuyết này vào các lĩnh vực xã hội, đặc biệt là giáo dục đạo đức và đào tạo nhân tài. Nguyễn Đức Đạt (1825 - 1887) là một nhà nho, nhà tư tưởng và nhà giáo dục tiêu biểu sống ở nửa cuối thế kỷ XIX. Trong thời gian lui về quê nhà mở trường dạy học, ông đã biên soạn bộ sách đồ sộ Nam Sơn tùng thoại dưới thể thức hỏi - đáp (vấn đáp tương tự như Luận ngữ của Khổng Tử). Trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Đức Đạt trong nước chủ yếu dừng lại ở các bài viết nghiên cứu từng khía cạnh đơn lẻ như tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ hoặc giới thiệu sơ lược trong các bộ thông sử tư tưởng Việt Nam, chưa có công trình nào mô tả diện mạo tổng thể hệ thống tư tưởng của ông trong Nam Sơn tùng thoại một cách toàn diện trên cả hai bình diện Nội thánh học và Ngoại vương học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, luận giải một cách hệ thống các nội dung tư tưởng cơ bản của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, từ đó đưa ra đánh giá khách quan về giá trị, hạn chế và ý nghĩa của những tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng như đối với thực tiễn hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Khảo cứu tình hình nghiên cứu về tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, chỉ ra những thành tựu đạt được của các học giả đi trước để kế thừa, đồng thời xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án.
  2. Trình bày, phân tích những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
  3. Phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng triết học và tâm tính học trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại.
  4. Phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng về đạo trị nước và thực thi chính sự trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là toàn bộ hệ thống tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt được thể hiện trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại. Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn vào hai trục nội dung lớn: thứ nhất là tư tưởng triết học và tâm tính học (Nội thánh học); thứ hai là tư tưởng về đạo trị nước và thực thi chính sự (Ngoại vương học). Về phạm vi không gian và thời gian, luận án tập trung khảo sát bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX (từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX, trọng tâm là thời kỳ trị vì của vua Tự Đức đến phong trào Cần Vương) gắn với các địa bàn hoạt động chính của Nguyễn Đức Đạt như Nghệ An, Hưng Yên và kinh đô Huế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước liên quan trực tiếp đến đề tài theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt:

  • Về bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX: Tác phẩm Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn Thế Anh (1971) phân tích hoạt động thương nghiệp và ngoại thương; cuốn Thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn (1997) và bài viết về chế tài điều tiết cực quyền (2007) của Đỗ Bang; công trình Việt Nam thế kỷ XIX của Nguyễn Phan Quang (1999); bộ sách Lịch sử Việt Nam (tập 6, 2013) do Võ Kim Cương chủ biên; nghiên cứu Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn của Trần Thanh Tâm (1996); tác phẩm Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh của Nguyễn Minh Tường (1996); cùng các tham luận khoa học của Đinh Xuân Lâm (2008), Trần Kim Đỉnh (2008), Nguyễn Quang Trung Tiến (2008), Trịnh Vĩnh Thường (2008).
  • Về tiền đề tư tưởng Nho giáo và hệ ý thức phong kiến: Các nghiên cứu kinh điển của Phan Bội Châu (Khổng học đăng), Trần Trọng Kim (Nho giáo), Vũ Khiêu (Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, Nho giáo xưa và nay, 1990), Lê Sĩ Thắng (Nho giáo tại Việt Nam, 1994; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2, 1997), Trần Văn Giàu (Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1, 1973), Nguyễn Tài Thư (Nho học và Nho học ở Việt Nam), Nguyễn Hùng Hậu (Đại cương lịch sử triết học Việt Nam, 2010), Trịnh Doãn Chính (Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam, 2013), Nguyễn Minh Tường (Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam, 2012).
  • Về thân thế và sự nghiệp Nguyễn Đức Đạt: Bài viết của tác giả Ninh Viết Giao trong cuốn Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng (2005) trình bày 3 chặng đường làm quan và sự nghiệp trước tác; bài báo của Nguyễn Thị Hương trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An (2010); bài viết của Nguyễn Thu Hương (2010) và các khảo cứu của Nguyễn Văn Phúc.

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học và tâm tính học: Trần Văn Giàu (1973) phân tích quan niệm Thiên đạo, chỉ ra Nguyễn Đức Đạt không phủ nhận mệnh trời nhưng nhấn mạnh vào nỗ lực đạo đức của con người thay vì định mệnh mù quáng; Lê Sỹ Thắng (1997) phân tích các phạm trù Đạo, vận số, phúc đức, giáo dục; Trịnh Doãn Chính (2013) làm rõ sự tiếp thu quan niệm Đạo của Lão Tử kết hợp với "Tứ bất" của Khổng Tử và "Tứ đoan" của Mạnh Tử; Nguyễn Hùng Hậu (2010) và Ninh Viết Giao (2005) phân tích tư tưởng giáo dục, phương pháp học tập và tính nhân văn trong quan niệm tu dưỡng của tác giả Nam Sơn tùng thoại.

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về đạo trị quốc và thực thi chính sự: Lê Sỹ Thắng (1997) khái quát tư tưởng chính trị của Nguyễn Đức Đạt với trục xuyên suốt là vua sáng, tôi hiền, an dân, lấy dân làm gốc và tiếp thu có chọn lọc tư tưởng Pháp gia; Trịnh Doãn Chính (2013) phân tích nguyên tắc "hữu vi trước, vô vi sau" và việc kết hợp đức trị với pháp trị; Mai Vũ Dũng (2008) trên Tạp chí Triết học phân tích sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật; Nguyễn Văn Phúc chỉ ra sự biện hộ cho hệ giá trị Nho giáo truyền thống của Nguyễn Đức Đạt.

Nhóm hướng nghiên cứu Các tác giả và công trình tiêu biểu Đóng góp và hạn chế của tài liệu đi trước
Cơ sở lịch sử, xã hội và tiền đề tư tưởng Nguyễn Thế Anh (1971), Đỗ Bang (1997, 2007), Võ Kim Cương (2013), Trần Văn Giàu (1973), Lê Sỹ Thắng (1997), Nguyễn Minh Tường (1996, 2012). Phân tích sâu bối cảnh kinh tế - chính trị triều Nguyễn và vai trò độc tôn của Nho giáo, nhưng chưa gắn kết trực tiếp vào việc hình thành hệ tư tưởng riêng của Nguyễn Đức Đạt.
Thân thế, sự nghiệp và trước tác Ninh Viết Giao (2005), Nguyễn Thị Hương (2010), Nguyễn Thu Hương (2010), Nguyễn Văn Phúc. Khắc họa 3 chặng đường hành đạo và dạy học tại quê nhà; chủ yếu mang tính chất tiểu sử học, văn học sử và khảo cứu địa phương chí.
Tư tưởng triết học và tâm tính học Trần Văn Giàu (1973), Lê Sỹ Thắng (1997), Trịnh Doãn Chính (2013), Nguyễn Hùng Hậu (2010). Chỉ ra các nét phác thảo về Thiên đạo, Nhân đạo, phương pháp tu dưỡng; các phân tích còn mang tính gợi mở, chưa có tính hệ thống toàn diện.
Đạo trị quốc và thực thi chính sự Lê Sỹ Thắng (1997), Trịnh Doãn Chính (2013), Mai Vũ Dũng (2008), Nguyễn Văn Phúc. Làm rõ tư tưởng an dân, kết hợp đức trị và pháp trị; tuy nhiên chưa giải thích sâu căn nguyên triết học và cấu trúc văn bản của tác phẩm.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù năm 2017 đã có luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Văn Thước mang tên "Tư tưởng Nguyễn Đức Đạt qua tác phẩm Nam Sơn tùng thoại", công trình đó chỉ dừng ở mức khái quát tản mạn các khía cạnh triết học, chính trị, văn hóa, giáo dục. Luận án tiến sĩ này chọn cách tiếp cận mới: căn cứ trên cấu trúc 4 quyển của văn bản Nam Sơn tùng thoại để quy nạp thành hai hệ thống hoàn chỉnh: Nội thánh học (triết học bản thể, tâm tính, tu dưỡng) và Ngoại vương học (chính trị, đạo trị nước, thực thi chính sự). Luận án định vị mình là công trình chuyên khảo đầu tiên trình bày diện mạo tư tưởng Nguyễn Đức Đạt một cách hệ thống, chỉ rõ đặc sắc tư duy và đóng góp của ông trong dòng chảy Nho học Việt Nam thế kỷ XIX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về bản chất con người, về đạo đức học và mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Về khung phân tích, luận án tiếp cận văn bản Nam Sơn tùng thoại thông qua cấu trúc triết học truyền thống phương Đông gồm hai trục phạm trù cơ bản:

  • Nội thánh học: Toàn bộ hệ thống triết lý về bản thể vũ trụ, quan niệm về Trời, Đạo, các phạm trù Tâm - Tính - Tình và các vấn đề tu dưỡng đạo đức, học vấn bản thân.
  • Ngoại vương học: Cái học ứng dụng thực tiễn, đường lối trị nước của bậc minh quân, bổn phận của bề tôi, việc thiết lập chính sách, pháp luật và tổ chức thực thi chính sự nhằm mục tiêu an dân.

Về phương pháp nghiên cứu, do đặc thù là một đề tài lịch sử tư tưởng triết học thuộc hướng tiếp cận định tính, tác giả không sử dụng các công cụ thống kê hay định lượng mà kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn:

  • Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Tái hiện sự hình thành tư tưởng Nguyễn Đức Đạt gắn liền với tiến trình vận động lịch sử - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng câu hỏi, lời đáp trong các thiên của Nam Sơn tùng thoại để rút ra các luận điểm triết học cốt lõi.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu tư tưởng Nguyễn Đức Đạt với kinh điển Nho gia nguyên thủy (Khổng Tử, Mạnh Tử), Hán nho, Tống nho, Lão Trang, Pháp gia và các nhà tư tưởng Việt Nam cùng thời.
  • Phương pháp hệ thống hóa: Quy tụ các luận điểm phân tán trong 30 thiên của tác phẩm thành các cụm vấn đề có kết cấu chặt chẽ.

Về nguồn tư liệu:

  • Nguồn tư liệu gốc: Tác phẩm chữ Hán Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt (bản dịch và văn bản gốc) cùng các bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn như Đại Nam thực lục (Kỷ Tự Đức), Đại Nam liệt truyện (tập 4).
  • Nguồn tư liệu tham khảo: Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học, sách chuyên khảo và tạp chí chuyên ngành đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Nội dung chương 1 tập trung khảo cứu, phân loại và đánh giá thành tựu của toàn bộ các công trình khoa học đã công bố liên quan đến bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX, tiền đề Nho giáo thời Nguyễn, tiểu sử tác giả và các công trình bước đầu luận giải tư tưởng Nguyễn Đức Đạt. Tác giả chỉ ra rằng các học giả tiền bối đã cung cấp nhiều luận cứ lịch sử và nhận định giá trị về bối cảnh triều Tự Đức, sự khủng hoảng của chế độ phong kiến trước sự xâm lược của phương Tây, cũng như những nét phác thảo về thế giới quan, nhân sinh quan của Nguyễn Đức Đạt.

Tuy nhiên, chương này xác định hạn chế của các công trình đi trước là chưa xem xét Nam Sơn tùng thoại như một chỉnh thể tư tưởng hoàn chỉnh, chưa phân tích rành mạch giữa nguồn gốc tiếp thu kinh điển Nho học với những sáng tạo riêng của Nguyễn Đức Đạt. Từ đó, chương 1 xác lập 3 nhiệm vụ cụ thể mà luận án cần đi sâu giải quyết: phân tích bối cảnh hình thành; luận giải tư tưởng triết học - tâm tính học (Nội thánh); và làm rõ tư tưởng đạo trị quốc - thực thi chính sự (Ngoại vương) cùng ý nghĩa lịch sử của chúng.

Chương 2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGUYỄN ĐỨC ĐẠT TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI

Chương 2 trình bày toàn diện các điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa và tiền đề tư tưởng dẫn đến sự ra đời tác phẩm Nam Sơn tùng thoại:

  • Bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới và Việt Nam: Nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây (Anh, Pháp) đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa ở châu Á (Trung Quốc bị xâu xé sau Hiệp ước Nam Kinh 1842; Nhật Bản, Xiêm, Đông Dương đứng trước nguy cơ xâm lăng). Tại Việt Nam, sau năm 1858 khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng, triều đình nhà Nguyễn từng bước thất bại, ký các hiệp ước 1862, 1874, 1883 và 1884, đưa nước ta thành xứ thuộc địa nửa phong kiến. Về kinh tế, nền kinh tế nông nghiệp truyền thống bị tàn phá bởi thiên tai và chính sách khai thác thuộc địa, chiếm đoạt ruộng đất lập đồn điền của tư bản Pháp, đẩy nông dân vào cảnh bần cùng. Về văn hóa, xuất hiện sự giao thoa văn hóa Đông - Tây, sự ra đời của báo chí (Gia Định báo 1865) và chữ quốc ngữ.
  • Tiền đề tư tưởng: Sự phục hưng Nho giáo từ đầu thời Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh) lấy Tam cương, Ngũ thường làm công cụ củng cố nhà nước quân chủ tập quyền, kết hợp với ảnh hưởng nhất định của Lão Trang, Phật giáo và Pháp gia.
  • Thân thế và sự nghiệp Nguyễn Đức Đạt: Ông sinh năm 1825 tại làng Hoành Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1853 (Tự Đức thứ 6), ông đỗ Thám hoa (Thám Nhất). Sự nghiệp của ông chia làm 3 chặng: từ 1853 đến 1872 làm quan và 3 lần giữ chức Đốc học Nghệ An; từ 1872 đến 1876 giữ chức Bố chính sứ kiêm Tuần phủ Hưng Yên; từ 1885 đến 1887 hưởng ứng phong trào Cần Vương và tạ thế tại quê nhà năm 1887. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Nam Sơn tùng thoại gồm 4 quyển, 30 thiên (như thiên Bình cư...), được biên soạn bằng chữ Hán theo thể vấn đáp giữa thầy và trò trong thời gian dạy học tại quê nhà.

Chương 3. TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VÀ TÂM TÍNH HỌC CỦA NGUYỄN ĐỨC ĐẠT TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quan niệm triết học và tâm tính học (trục Nội thánh) trong Nam Sơn tùng thoại:

  • Tư tưởng triết học:
    • Về "Trời" và "Mệnh trời": Nguyễn Đức Đạt không xem Trời thuần túy là vị thần nhân cách hóa định đoạt tuyệt đối, cũng không đồng nhất với thuyết định mệnh tiền định mù quáng. Ông quan niệm họa phúc ở đời chủ yếu do chính hành vi đạo đức và nỗ lực của con người tạo nên. Trời là chủ thể muôn vật nhưng con người có thể chủ động nhận thức và chịu trách nhiệm về vận mệnh của mình.
    • Về "Đạo" và con đường đạt Đạo: Ông tiếp thu yếu tố bản thể luận của Lão Tử khi xem Đạo là bao la, vô cùng vô tận, "như trời che đất chở", song quy tụ nội dung cốt lõi của Đạo về đạo lý làm người (Tam cương, Ngũ thường). Con người muốn đạt Đạo phải dùng Tâm, thực hành "Tứ bất" (bốn điều chớ làm của Khổng Tử) và nuôi dưỡng "Tứ đoan" (bốn đầu mối nhân, nghĩa, lễ, trí của Mạnh Tử).
  • Tư tưởng về Tâm tính học:
    • Quan hệ giữa "Tâm", "Tính" và "Tình": Tính là bản tính tự nhiên trời phú vốn thiện; Tâm là chủ thể nhận thức và điều khiển hành vi; Tình là biểu hiện cảm xúc ra bên ngoài. Sự tu dưỡng cốt ở việc giữ cho Tâm sáng, chế ngự Tình dục thái quá để bảo tồn bản Tính thiện.
    • Quan niệm về học vấn, tu dưỡng và giáo hóa: Nguyễn Đức Đạt đề cao mục đích học để làm người, học đi đôi với hành, coi trọng phương pháp giáo dục gợi mở, tự suy ngẫm, phù hợp với năng lực học trò.
  • Ý nghĩa: Thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc, đề cao trách nhiệm đạo đức cá nhân, bảo tồn hệ giá trị luân lý truyền thống trong giai đoạn xã hội biến loạn.

Chương 4. TƯ TƯỞNG NGUYỄN ĐỨC ĐẠT VỀ ĐẠO TRỊ QUỐC VÀ THỰC THI CHÍNH SỰ TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

Chương 4 luận giải tư tưởng chính trị và hành chính thực tiễn (trục Ngoại vương) của Nguyễn Đức Đạt:

  • Đạo trị quốc:
    • Đạo trị nước của nhà vua: Vua phải là đấng minh quân, lấy đức cảm hóa dân chúng, "yêu kính dân như yêu kính bản thân mình", đặt quyền lợi của nhân dân lên hàng đầu; phải biết trọng dụng hiền thần, xa lánh kẻ nịnh bợ. Đường lối chính trị phải theo nguyên tắc "hữu vi trước, vô vi sau" (trước hết phải chăm lo xây dựng chính sự thiết thực, sau mới đạt tới cảnh trị bình vô vi).
    • Bổn phận của bề tôi: Bề tôi phải giữ tròn đạo trung hiếu, ngay thẳng, dám can gián vua bảo vệ lẽ phải, hết lòng vì nước vì dân chứ không mù quáng a dua.
  • Tư tưởng về chính sự và thực thi chính sự:
    • Kết hợp đức trị và pháp trị: Đức trị là gốc rễ để quy phục lòng người, nhưng phải dùng pháp trị nghiêm minh để giữ vững kỷ cương, chính lệnh. Đạo đức và pháp luật không đối lập mà bổ trợ cho nhau trong quản lý xã hội.
    • Tư tưởng thân dân và an dân: Mọi chính sách thuế khóa, hình pháp, sử dụng nhân lực đều phải hướng tới mục đích tối cao là làm cho nhân dân no đủ, yên ổn làm ăn.
  • Ý nghĩa và hạn chế: Tư tưởng chính trị của ông chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ về thuật dùng người và trị nước an dân; tuy nhiên hạn chế lịch sử là vẫn bị đóng khung trong ý thức hệ quân chủ phong kiến, nỗ lực biện minh cho Nho giáo truyền thống trong bối cảnh lịch sử đòi hỏi những cải cách duy tân triệt để hơn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể sau:

  • Về mặt lý luận:

    1. Luận án là công trình triết học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tác phẩm Nam Sơn tùng thoại của Nguyễn Đức Đạt dựa trên việc phân lập và làm rõ hai cấu trúc cơ bản: Nội thánh học và Ngoại vương học.
    2. Phân tích sáng tỏ tư tưởng triết học và tâm tính học của Nguyễn Đức Đạt, chỉ ra nét đặc thù trong quan niệm về Trời và mệnh trời (phủ nhận tính tiền định tiêu cực, đề cao ý chí và trách nhiệm con người), sự kết hợp linh hoạt giữa Đạo của Lão Trang với chuẩn mực đạo đức Khổng - Mạnh, cùng quan niệm tiến bộ về giáo dục, tu dưỡng bản thân.
    3. Làm rõ tư tưởng về đạo trị quốc và thực thi chính sự, chứng minh sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng nhân chính Nho gia với phương pháp trị nước nghiêm minh của Pháp gia, nhấn mạnh nguyên lý "lấy dân làm gốc", "an dân" và đường lối "hữu vi trước, vô vi sau".
    4. Đánh giá khách quan, biện chứng giá trị tư tưởng Nguyễn Đức Đạt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX: một mặt khẳng định nỗ lực bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và luân lý Nho phong; mặt khác chỉ ra giới hạn lịch sử mang tính bảo thủ của hệ ý thức phong kiến trước sự chuyển biến của thời đại.
  • Về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp:

    1. Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc kế thừa có chọn lọc các giá trị đạo đức Nho giáo truyền thống (như đức liêm chính, tinh thần trách nhiệm, lòng yêu thương con người) nhằm xây dựng đạo đức công vụ và nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
    2. Gợi mở những bài học kinh nghiệm về phương thức kết hợp giữa giáo dục đạo đức với thực thi pháp luật nghiêm minh trong quản lý xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu của đề tài tiến sĩ Triết học được xác định tập trung vào hai nội dung cơ bản là triết học - tâm tính học và đạo trị quốc - thực thi chính sự trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, luận án chưa thể khai thác toàn diện các phương diện phong phú khác có mặt trong tác phẩm như tư tưởng quân sự, quan điểm lý tài, kinh tế học cổ truyền, lễ nhạc, văn học, mỹ học và dân tộc học. Đồng thời, luận án chưa có điều kiện khảo sát sâu các tác phẩm khác của Nguyễn Đức Đạt như Đông hiên hà dạ tập, Hồ dạng thi, Vịnh sử thi tập, Việt sử thặng bình, Cần kiệm vựng biên, Khảo cổ ức thuyết.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình khoa học trong tương lai có thể:

  1. Mở rộng diện nghiên cứu sang toàn bộ di sản trước tác còn lại của Nguyễn Đức Đạt để xây dựng một bức tranh hoàn chỉnh về sự nghiệp trước tác đồ sộ của ông.
  2. Đi sâu phân tích các khía cạnh chuyên biệt trong Nam Sơn tùng thoại như tư tưởng quân sự, nghệ thuật lễ nhạc và quan điểm sử học.
  3. Thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tư tưởng Nguyễn Đức Đạt với các nhà tư tưởng cùng thời như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Bùi Viện và vua Tự Đức để làm rõ hơn các khuynh hướng tư tưởng ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao, phục vụ thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Triết học (đặc biệt là môn Lịch sử Triết học Việt Nam, Nho giáo Việt Nam), Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học và Hán Nôm có thể khai thác khung lý thuyết phân tích Nội thánh - Ngoại vương và hệ thống tư liệu trích dịch từ Nam Sơn tùng thoại.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử tư tưởng: Tham khảo phương pháp tiếp cận văn bản vấn đáp và cách thức đánh giá biện chứng một tác gia Nho học thời Nguyễn.
  • Người làm công tác quản lý và hoạch định chính sách giáo dục, văn hóa: Khai thác các bài học về xây dựng đạo đức công vụ, thuật dùng người, kết hợp giữa đức trị và pháp trị, và phương pháp giáo dục nhân cách.

Phần đáng tham khảo nhất của luận án là chương 3 và chương 4, nơi tác giả phân tích chi tiết sự chuyển hóa các phạm trù kinh điển Nho gia sang bối cảnh xã hội Việt Nam và hệ thống luận điểm về mối quan hệ vua - tôi - dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác phẩm Nam Sơn tùng thoại được biên soạn dưới hình thức nào và ra đời trong hoàn cảnh nào của cuộc đời Nguyễn Đức Đạt?
Tác phẩm được viết bằng chữ Hán dưới hình thức hỏi - đáp (vấn đáp tương tự như sách Luận ngữ của Khổng Tử), ghi chép lại các cuộc trao đổi, thảo luận giữa Nguyễn Đức Đạt và các thế hệ học trò. Tác phẩm ra đời vào giai đoạn cuối đời của ông, sau khi ông rời bỏ chốn quan trường và lui về mở trường dạy học tại quê hương Nam Đàn, Nghệ An.

2. Điểm khác biệt căn bản trong quan niệm về "Trời" và "Mệnh trời" của Nguyễn Đức Đạt so với thuyết định mệnh tiền định là gì?
Nguyễn Đức Đạt không xem mệnh trời là điều tiền định bất biến khiến con người phải hoàn toàn thụ động tuân theo. Ông quan niệm mệnh trời là điều không thể biết trước, chỉ biết sau khi sự việc đã diễn ra; do đó, chiều hướng tư tưởng của ông nhấn mạnh vào nỗ lực chủ động, tu dưỡng đạo đức và hành vi cụ thể của con người chính là nhân tố quyết định trực tiếp tạo nên họa và phúc.

3. Nguyễn Đức Đạt quan niệm như thế nào về mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị trong thực thi chính sự?
Ông chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa đức trị và pháp trị. Trong đó, đạo đức của đấng minh quân và ân tứ sâu dày là gốc rễ để cảm hóa lòng dân, nhưng phải tôn trọng chính lệnh và sử dụng pháp luật nghiêm minh để duy trì kỷ cương, phòng ngừa tệ nạn tham quan, bảo đảm sự ổn định của trật tự xã hội.

4. Luận án phân chia cấu trúc tiếp cận tác phẩm Nam Sơn tùng thoại theo hai trục nội dung lớn nào?
Căn cứ trên 4 quyển của văn bản, luận án tiếp cận tác phẩm theo hai trục lớn: trục Nội thánh học (triết học bản thể về Trời, Đạo, Tâm - Tính - Tình, phương pháp tu dưỡng và học vấn) tại chương 3; và trục Ngoại vương học (đạo trị quốc của nhà vua, bổn phận bề tôi, phương pháp thực thi chính sự an dân) tại chương 4.

5. Sự khác biệt giữa luận án tiến sĩ này với luận văn thạc sĩ năm 2017 của tác giả Vũ Văn Thước là gì?
Luận văn thạc sĩ năm 2017 của Vũ Văn Thước tiếp cận tác phẩm theo lối trình bày khái quát, tản mạn các mặt triết học, văn hóa, chính trị, giáo dục qua một số dẫn chứng đơn lẻ. Ngược lại, luận án tiến sĩ của Trần Thị Nhẹn tiếp cận có tính hệ thống toàn diện dựa trên mô hình cấu trúc 4 quyển của tác phẩm, phân chia rành mạch thành hai mảng Nội thánh học và Ngoại vương học để giải mã chiều sâu tư tưởng của Nguyễn Đức Đạt.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Nhẹn là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc về tư tưởng triết học và chính trị của Nguyễn Đức Đạt trong tác phẩm Nam Sơn tùng thoại. Bằng việc tiếp cận hệ thống tác phẩm qua hai trục phạm trù Nội thánh học và Ngoại vương học, luận án đã làm sáng tỏ diện mạo tư tưởng Nho học độc đáo của một danh nho đất Lam Hồng nửa cuối thế kỷ XIX. Công trình chỉ rõ giá trị nhân văn, tinh thần thân dân, quan điểm kết hợp đức trị với pháp luật của tác giả, đồng thời phân tích khách quan những giới hạn lịch sử của hệ tư tưởng phong kiến triều Nguyễn. Luận án đóng góp nguồn tư liệu khoa học có giá trị cao cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.