Chương 1 Ý THỨ ANG TAO VA QUAN DIEM NGHỆ THUẬT CUA NGUYEN THE THUY VO 1. Sáng tạo nghệ thuật 1 “Những trang văn giầu sự tri nghiệm Bản chất của nghệ thuật là sư sing tạo và sắng tạo không ngừng. Tuy nhiên, ự sáng tạo nào cũng đều bắt nguồn từ cuộc sống. Hiện thực cuộc sống chính là mảnh đắt màu mỡ để mỗi nhà văn khai thác và biểu hiện vào trong tác phẩm của mình Trong thì đân văn học Việt Nam, phụ nữ cằm bút, có my ai không đa đoạn, trắc ở.
Dường như cái sự viết, những đa đoạn phận người đã đánh dim ho tong bé dâu cuộc đời như một lẽ thường của đàn bà làm nghề viết. Nguyễn Vũ Thụy Vũ cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Với Nguyễn Thị Thuy Vũ, khi chọn đi trên son đường với văn chương thì cũng có nghĩa ở một khía cạnh nào đó bà chấp nhân những hy sinh, tiệt thôi. Cổ thể là hy sinh một cuộc hôn nhân khi không nhận dược sr cảm thông của người đồng hành hoặc đôi kh là chấp nhân một cuộc sông ít nhẹ nhàng (ong tâm tưởng), một banh phúc theo nghĩa thông thường như những người phụ nữ làm nghề khác.
Tuy nhiên, một điều đặc biệt là ngay từ những mắt mát, thiệt thôi dy, những trang văn của họ vẫn chan cÍ yêu thương, thắm xanh hy vọng Din bà vết văn thường đa đoạn, Bởi họ quá nhạy cảm, Mã nhạy cảm thường đi đôi với những chênh vênh, khó nắm bắt: “Nhạy cảm quả đôi khi thành nghiệt ngã”. Thật khó có th tin mot phy nf sing hoi hot, nhạt nhềo lại có th viết được những, đoạn văn, những câu thơ chạm tối tận đầy sâu trái m bạn đọc. Có thể tùy tính cách, tủy hoàn cảnh sống, những người phụ nữ Ấy quan tâm hơn tới điều này diễu kia hoặc đơn giản chỉ là cách biểu hiện bên ngoài. Còn trước trang giấy, những người dân bà cằm bắt luôn trung thực với tái tìm của mình.
Họ viết về những dau đón, mắt mát, những dẫn vặt nhưng chưa bao gi thôi khát khao về một cuộc sống đầy p tin yêu. Bên cạnh những giãy phút bận rộn, vắt vã lo toan như bao người phụ nữ khác, khi ngồi trước trang giấy, họ được sống thật với mình nhất. Tác phẩm chính là cách họ trò chuyện với chính mình, với cuộc sống, là cách họ khoác lên tâm hỗn mình đôi inh dé phiéu du trong trí tưởng tượng và những đắm say. Nguyễn Thị Thuy Vũ, tên thất là Nguyễn Thị Băng Linh, sinh năm 1937 6 Vinh Long, tong một gia đình khá giả.
Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là tỉ sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến, Bà viết văn từ năm 1965, Bà chung sống với nhà thơ Tô Thủy Yên và có đến bốn mặt con. Cuộc hôn nhân không êm đề đến năm 1980, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình nuôi con. ¬ a bà là những thăng tẩm. Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, ồi không chấp nhận được môi trường sự phạm bỏ hẹp, khăn gói lên Sai Gon hoe Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ.
Tại đây, ngay ừ năm đầu tiên học iếng Anh, bà được một bạn học giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gi lâm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kề bình lính, sĩ quan Mỹ. Nhiễu người trong số đó dem tâm sự tỉ tê với ba. Cuộc đời và tâm sự của ho gây xúc động, làm thành để tài sáng tác của bà. Người đọc nhận thấy trong các truyện của bà Nguyễn thì thoảng có sô giáo dạy Anh vin xuất hiện, Những đổi thay của cuộc đồi, thời cuộc cùng với thực tổ tần tr, khốc iệ, thắm dim buổn dau về đời sông con người, những cô gái làm ở các snack bạc, dan du với lính Mỹ đã đ vào trang viết của Nguyễn Thị Thuy Vũ, gây Ấn động dư luận vào khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970.
`Với các tip: Meo đời 1aa vào lửa, Chiểu mênh mông, Ngọn phảo bông, Khung. rêu, Thú hoang. Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên văn dân miền Nam Nguyễn Thị Thuy Vũ mạnh dạn phơi bày một phương diễn thực trạng xã hội a vào một thời điểm đá biệt. Bà xông vào cơn gió boi, phanh phi những cảnh dời lầm than, công đấy xã hội làm lắm kỳ sững sở, nhăn mặt.
Bên cạnh đó, chính những tháng ngày gắn bó với mảnh đất, văn hóa và con người Nam Bộ, đặc + là quê hương Vĩnh Long- nơi bà sinh ra và lớn lên, đã làm nên những trang viết Am ấp hơi thở về cuộc sống, con người Nam Bộ. Cảnh sông nước, miệt vườn, lời ăn, tiếng nói, dáng điệu, cử chỉ, phong tục, tập quần, món ăn, những lời ca tếng bát. của các nhân vật rong tác phẩm của bà Nguyễn thất sng động và ven nguyên. Con người nơi đây phóng khoảng với một cuộc sống gin đị " mà chan chứa tỉnh người.
Nguyễn Thị Thụy Vũ phải là người yêu. này mới có những trang viết ấm đượm tình quê như thế. "Đn với những trang văn của Nguyễn Thị Thụy Vũ, tuy cổ sự pha trộn gila ự thật và hư cấu nhưng sự thất và tính chân thực được đặc biệt chủ trọng, trong đồ, tỷ lẽ cái thật tội hơn so với hư cấu, thậm chí là bộ xương để kiến tạo cốt truyện "Những yếu tố này được bà đưa vào tác phẩm một cách hệ thống, có ý nghĩa trong. việc hình thành tính cách nhân vật.
Chúng tôi cho rằng, khi viết c túc ph "Nguyễn Thị Thụy Vũ từ những trả nghiệm, chiêm nghiệm, giọng kếtự thú, nhất là khuynh hướng xoây sâu vào lý giả quá tình hình thành nhân cách nhân vật chính, độc giả cảm nhận được mâu sắc hiện thực õ rệt (Vuz thiên đường lan, Nang tan tiắp tua, Chiều xuống êm dẫn, Khung réu, Thi hoang, Như ngọn pháo bông, Cho trận gió kinh thiên. Nhân vật trong các tác phẩm của bà hiện lên một cách chân thực. Những vui buẳn, ghết thương, trăn ở, ốc vọng, sự chua chất, niềm tin, ran vO ue mơ, cô đơn. của thân phận con người rong các trang văn cũa bà hiện lên một cách tự nhiễn nhưng cũng rất âm ảnh.
Đó là những thân phận kiếp người cùng đáy xã hội. Trong truyện ngắn Ứao vảo lửa, các cô gái bar: Tâm (Chiếc giường), Ta- Tina (Lao vào lửa), Hạnh, Bích, Nga (Đêm nồi lửa), Mi-sen (Nẵng. chi vàng), Loan (Mẻo đêm) mỗi người mỗi hoàn cảnh bị sa chân vào cuộc sống của các cô gái làm điểm. Họ mênh mông, vô dịnh, bị cuỗn vào vòng xoáy của ánh đền, men rượu, ếng nhạc của quấn bar, những va đập của xác thí, những tr nghiệm giường chiếu của bạn tỉnh.
Họ tiển miễn trong nỗi dau, cô độc, lo sợ tuổi giả sắp đến nhưng khi được bắt đầu ại từ đầu, họ hoài nghỉ, họ không muốn, không cquen, họ không biết sống như thể nào và phải làm những gi. Họ cứ trượt di, rồi mi giữa dòng đời cả những hiện thực mà Nguyễn Thị Thụy Vi mg kiến, chiêm đã góp phần tạo nên các tác phẩm văn xuôi ngồn ngôn hiện thực. Bà viết như là một hình thức để ải lòng. Dù bà để cập tới những vấn đề vĩ "mô hay nhỏ bế, xa xôi bay gần gui thì vẫn bộc lô sự tính tế, sâu lắng, những góc nhìn ắtiêng về thôi cuộc và con người.
Sự đa dạng, mạnh bạo trongđề tài Đọc các ác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng la không khỏi ngờ ngàng, sửng sốt bởi những trang văn \y táo bạo. Những gì người ta nghe thấy, chứng kiến ngoài đời, người ta ngại nói hoặc nhắc đến th bà lại đỀ cập một cách tự nhiên, không hỗe ni, giấu đểm “Giai đoạn 1945- 1975, văn xuôi hầu hết để cập đến các để tải tập trung thể hiện, phản ánh kịp thời nhịp sống cách mạng, kháng chiến của toàn dân tộc. Tỉnh thần ngợi ca bao trùm lên toàn bộ đồi sống văn học cách mạng. Migu tả cái bị phải là bí hùng, bỉ trắng, tuyệt nhiên không được phép bí luy.
Người cần bộ chi sĩ vì “quằn chúng cách mạng là hai mảng đề tả lớn nhất, hút vào những để tài khác: đ ti chiến tranh, cách mạng, đ tải lịch sử, đỀ tài xây dụng chủ nghĩa xã hội, cải cách mộng đắt, đề tài đầu ranh thống nhất đất nước: Sống mãi với thủ đổ (Nguyễn Huy Tưởng), Những người thợ mỏ (Võ Huy Tâm), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Dắu chân người lĩnh (Nguyễn Minh Châu), Hôn đất (Anh Đức), Bao biển (Chu ‘Van), Chủ tịch huyện ( Nguyễn Khải). Nhà văn về đề tai chiến tranh và con người tong kháng chiến đã mi n thực sống động, chân thất. Con người trong các mảng đề, chủ đề tiêu thuyết chiến tranh, cách mạng chủ yêu được miễu tả ở khía cạnh chung, tiêu biểu cho gai cấp, dân tộc. Vẻ đẹp lý tưởng của họ được hòa chung với công đồng, thời đai.
Do đó, văn xuôi giai đoạn này giới hạn đời sống chủ yêu miêu tà ở bnỗi, mang cảm hứng ngơi ca. Trong khi văn xuôi đang khai thác những vấn đề thôi thượng thì Nguyễn Thị “Thụy Vũ lại chọn cho mình một hướng đi riêng, đi sâu vào để tải thể sự, đồi tư "Nhìn chung, toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ thể hiện rõ nét, xuyên suốt ở hai máng È tải: đời sống của bà con nông dân (Thú hoang, Như thiên đường. lạnh, Khung rêu) và đời sống của những cô gái bar (Lao vào lứa, Mèo đêm, Chiều ‘ménh ming, Ngọn pháo bóng. Hai đề tài này đặt vào hai không gian cụ thể: Thứ nhất, không gian sinh hoạt nông thôn miễn Nam, tỉnh Vĩnh Long.
Đó là biểu tượng của một vùng sông nước trù phú, ôn hỏa, miu md, lim nén cho những gia đỉnh “quyền quý, cầu kỳ hay cuộc sống đồi thường với những nếp sống sinh hoạt thường. nhật với tĩnh yêu, tuổi trẻ, đi sống gia định. của bà con thôn quê. Thứ hai, đồ là không gian của đ thị Sải Gòn, Đồ là không gian của các cô gái bạ tiếp khách trong, đánh đèn mỡ, men rượu, không gian phòng ngủ, bệnh viện, p 100, x6m lao động, nghèo.
Dù là ở không gian nghệ thuật nào thì ngồi bút của Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng muốn phản ánh một cách sinh độn/ chỉ tiết để nói lên những vẽ đẹp xưa cũ nay đã bị hoàn cảnh thời cuộc tác động. Bà khai thác câu chuyện cia đến từ nhiều tầng lớp khác nhau: là gia đình của một ông Phủ về hưu trong Ñhưng réu, "người phụ nữ từ khuôn đúc ễ giáo bài bản đ làm vo, lim m trong Nhang tn tp ua, đảm học tò lớp Đệ tứ A trong Thi hoang.