phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm: 3 chƣơng 7 tiết 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Về quy luật mâu thuẫn đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Thành Dƣơng (1986), Một số khía cạnh của phép biện chứng duy vật, Nxb sách giáo khoa Mác- Lênin; GS.TS Phạm Ngọc Quang (1991),Thử vận dụng Luan van 4 lí luận về mâu thuẫn vào thời kì quá độ ở nƣớc ta, Nxb Sự thật; Nguyễn Ngọc Hà (1998), Một số vấn đề nhận thức quy luật mâu thuẫn, Nxb Khoa học xã hội; PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng (2005), Mâu thuẫn: một số vấn đề lí luận và thực tiễn. Nxb Khoa học xã hội. Nhìn chung, các công trình đều góp phần làm rõ nội dung của quy luật mâu thuẫn theo cách tiếp cận của triết học mác-xít.
Bên cạnh đó, xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của quy luật mâu thuẫn, nhất là giải quyết mâu thuẫn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều tác giả đã lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ nhƣ: Nguyễn Thị Hiền (2008), Lí luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930- 1945. Nguyễn Thị Vân Anh (2013), Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mâu thuẫn trong nghiên cứu và giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội ở nƣớc ta hiện nay và Huỳnh Văn Thiên (2014), Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào việc điều tiết và phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trƣờng Việt Nam hiện nay. Tạp chí triết học cũng đã đăng tải khá nhiều bài viết liên quan đến vấn đề mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn trong xã hội ta hiện nay. Đó là các bài báo của các tác giả nhƣ: Nguyễn Văn Vinh (tháng 4-2002), “Để góp phần giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn chủ yếu của nƣớc ta hiện nay”, Tạp chí triết học số 4; Đặc biệt, Đặng Hữu Toàn (số 1-2002), “Quan niệm của Heraclite về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ”.
Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích một số luận điểm nổi tiếng của các triết gia vĩ đại này nhƣ mọi cái đồng nhất đều luôn tồn tại trong sự khác biệt và đó là cái hài hòa của những cái căng thẳng, đối lập; tất cả mọi vật đều ra đời trong đấu tranh; đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tƣợng phải diễn ra trong khuôn khổ của logos, chứ không phải trong khuôn khổ của cái vô trật tự, của thói tùy tiện của mâu thuẫn với logos vũ trụ.Từ đó đi đến kết luận, trong tƣ tƣởng của Hêraclít, vũ trụ là một chỉnh thể thống Luan van 5 nhất, hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập là hai mặt chỉnh thể đó; trong đó, ông đề cao yếu tố đấu tranh khi cho rằng “chiến tranh (đấu tranh) là cha của vạn vật”, đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của mọi sự phát triển; nhƣng đấu tranh của các mặt đối lập phải diễn ra theo qui luật, trong khuôn khổ của logos, chứ không phải tùy tiện, chỉ nhƣ vậy mới đảm bảo cho vũ trụ vận động bình thƣờng và mọi cái không bị đảo lộn. Qua bài viết tác giả đã làm rõ sự xuất sắc trong tƣ duy triết học của Hêraclít, đặc biệt là quan niệm về sự hài hòa và đấu tranh của câc mặt đối lập, khẳng định đóng góp của Hêraclít vào sự phát triển tƣ tƣởng triết học nhân loại, xứng đáng là tổ tiên của phép biện chứng nhƣ các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã suy tôn. Bàn về các thành tố của quá trình dạy học, xuất phát từ yêu cầu của thực tế, mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau, công trình của họ góp phần làm sáng tỏ những nội dung mà tác giả luận văn nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Em (2005), Biện pháp quản lí thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy học tại các trƣờng THPT thành phố Đà Nẵng; Trần Đức Hùng (2012), Biện pháp quản lí thiết bị dạy học ở trƣờng THPT tỉnh Quãng Ngãi trong giai đoạn hiện nay; Đặng Thị Vy Huyền (2014), Biện pháp quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Sinh học của học sinh các trƣờng THCS quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng. Nhiều bài nghiên cứu đƣợc đăng trên các tạp chí nhƣ : Nguyễn Huy Sâm (2004), “Thiết bị dạy học góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học nâng cao chất lƣợng dạy học theo hƣớng tích cực”, Tạp chí TTKHGD.
Nguyễn Hữu Thanh (2008), “Sử dụng phƣơng pháp dạy học hợp lí nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của quá trình dạy học”, Tạp chí giáo dục, số 191 kì I- (6/2008). Trần Xuân Đắc (2011), “Sử dụng thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng Trung học phổ thông”, Tạp chí giáo dục(5). Luan van 6 Vấn đề nâng cao chất lƣợng giáo dục đã có nhiều nhà lí luận có uy tín, nhiều nhà khoa học trong nƣớc nghiên cứu ở những mức độ, góc độ khác nhau. Phạm Văn Đồng (1999) Về vấn đề giáo dục – đào tạo.
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội. Phạm Văn Đồng (2008), Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu tƣơng lai của dân tộc. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, tác giả đã phân tích nhiều vấn đề ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục của nƣớc ta nhƣ: Chƣơng trình giáo dục phổ thông phải đảm bảo những cái cơ bản, toàn diện và phải cân đối.; Ra sức nâng cao chất lƣợng phổ thông; Ý nghĩa to lớn của việc bảo vệ, sửa chữa và nâng cao chất lƣợng cơ sở vật chất trƣờng học. Phùng Đình Mẫn (2003) (chủ biên) Những vấn đề cơ bản về đổi mới giáo dục trung học phổ thông hiện nay.TS Phạm văn Linh (2013) (chủ biên), “ Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo” đã đề cập đến bức tranh chung về thực trạng giáo dục hiện nay, thời điểm đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nƣớc ta.
Trong bài viết tác giả đã nêu những mâu thuẫn, thách thức và điểm nghẽn đối với nền giáo dục nƣớc ta khi thực hiện đổi mới căn bản toàn diện. Đặc biệt TS. Nguyễn Vinh Hiển với “Đổi mới chƣơng trình phổ thông, thời cơ thách thức và những vấn đề đặt ra” đã nêu lên những mâu thuẫn của giáo dục phổ thông. Phan Thanh Thuận (2013), Biện pháp quản lí công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Tam Kì tỉnh Quảng Nam.
Tác giả đã nhấn mạnh đến các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá chất lƣợng giáo dục trung học phổ thông. Những kết quả nghiên cứu của các tác giả là khá sâu sắc và toàn diện về mặt lí luận, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề, có giá trị khoa học. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn việc vận dụng những quy luật mâu thuẫn giải quyết vấn đề nâng cao chất lƣợng giáo dục Trung học phổ thông ở thành phố Đà Nẵng chƣa đƣợc tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ. Luan van 7 Đề tài của chúng tôi kế thừa tất cả những thành quả nghiên cứu về mặt lí luận của các tác giả từ trƣớc tới nay, tiếp cận mâu thuẫn trong giáo dục trên tinh thần đổi mới của Đảng, trên cơ sở đó đi sâu phân tích và góp phần đƣa ra những giải pháp để nâng cao chất lƣợng giáo dục Trung học phổ thông hiện nay.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN VÀ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC 1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHÂN LOẠI MÂU THUẪN 1. Khái niệm mâu thuẫn Tiếp thu những giá trị tích cực trong quan niệm về mâu thuẫn của các nhà triết học đi trƣớc, C. Ănggghen đã phát triển lí luận về mâu thuẫn trên lập trƣờng duy vật.
Trong quan niệm của C. Mác và Ph Ăngghen, mâu thuẫn “tồn tại một cách khách quan ở trong sự vật và các quá trình và có thể bộc lộ ra dƣới một hình thức hữu hình” [ 4, tr 287]. Hai ông dùng lí luận về mâu thuẫn để vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển của tự nhiên và xã hội; đồng thời nhận thức mâu thuẫn trong tính hệ thống của nó, chỉ ra đâu là mâu thuẫn cơ bản để từ đó đƣa ra cách giải quyết mâu thuẫn. Đối với phép biện chứng duy vật, mâu thuẫn đƣợc hiểu không phải là sự kết hợp đơn thuần của hai mặt đối lập mà là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa hai mặt đối lập ấy.
Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh hƣớng biến đổi trái ngƣợc nhau, vừa bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhƣng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất. Nhƣ vậy, mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau. Không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Chỉ có hai mặt đối lập nào cùng tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật nhƣ một chỉnh thể, nhƣng có khuynh hƣớng phát triển ngƣợc chiều nhau, phủ định và chuyển hóa lẫn nhau thì mới đƣợc gọi là hai mặt đối lập của mâu thuẫn.
Chính những mặt nhƣ vậy cùng với quá trình liên hệ, tác động qua lại giữa chúng đã tạo thành những mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm triết học dùng để chỉ sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập biện chứng. Chúng ta cần phân biệt Luan van 9 mâu thuẫn theo quan điểm của phép biện chứng (mâu thuẫn biện chứng) với mâu thuẫn theo quan điểm của logic học hình thức (mâu thuẫn logic hình thức hay mâu thuẫn lôgic). Nội dung quy luật mâu thuẫn - Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến Mác và Ăngghen khẳng định rằng, mọi sự vật, hiện tƣợng đều là thể thống nhất của những mặt, những thuộc tính và khuynh hƣớng đối lập nhau; nói cách khác, sự vật hiện tƣợng nào cũng bao hàm mâu thuẫn bên trong.
Mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan, vốn có của sự vật, hiện tƣợng. Mâu thuẫn tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tƣợng, mà còn phổ biến trong quá trình vận động và phát triển của chúng. Mâu thuẫn có trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tƣ duy.