CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG NHIỆM KÌ CỦA TỔNG THỐNG BILL CLINTON 1. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực 1. Bối cảnh quốc tế Thứ nhất, sau Chiến tranh Lạnh, sự sụp đổ của “một trong hai siêu cường” đã làm cho tính chất của các mối quan hệ quốc tế thay đổi.
Hình thái vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau trở thành đặc trưng trong quan hệ quốc tế nhằm thiết lập trật tự quốc tế mới. Mỹ chủ trương một thế giới đơn cực trong khi các nước khác như Nga, Trung Quốc, EU, Nhật Bản đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực mà ở đó quyền lãnh đạo thế giới bị chia sẻ. Đồng thời, các tổ chức khu vực, liên minh kinh tế đã xuất hiện như: EU (tháng 12/1992); AFTA (1992); NAFTA (1994), ARF (1994)… Các tổ chức và diễn đàn khu vực này là sự liên kết của các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau; phản ánh chiều hướng của các nước muốn liên kết với nhau để tận dụng khả năng tiềm tàng khu vực của mình nhằm ứng phó với quá trình toàn cầu hóa đang phát triển nhanh chóng. Để khẳng định ảnh hưởng của mình trong quan hệ quốc tế và khu vực, Mỹ đã thay đổi chính sách toàn cầu và khu vực, đặc biệt hướng chính sách đó tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Trong vấn đề xây dựng trật tự thế giới mới ở khu vực này, Mỹ đã nhận thấy ASEAN, trong đó có Việt Nam sẽ là nhân tố quan trọng trong quan hệ với các nước lớn. Do đó, Mỹ đã từng bước điều chỉnh chính sách với Việt Nam. Thứ hai, trước sự biến động của tình hình quốc tế, các mâu thuẫn tiềm ẩn như: xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tranh chấp biên giới lãnh thổ, vấn đề môi trường, dịch bệnh dịch, HIV/AIDS, buôn bán người qua biên giới, buôn bán ma tuý, hiểm hoạ thiên tai, đói nghèo, an ninh lương thực, hoạt động khủng bố đã trở thành mối đe dọa với : 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com an ninh quốc gia và an ninh quốc tế. Những mâu thuẫn này mang tính chất liên quốc gia, đòi hỏi phải có sự hợp tác và chia sẻ của cộng đồng các quốc gia.
Liên quan đến vấn đề này, Tổng thống Bill Clinton trong chiến lược “Can dự và mở rộng” cho rằng “về bản chất không phải tất cả các nguy cơ an ninh đều cấp bách hoặc dính dáng đến quân sự. Những vấn đề xuyên quốc gia như chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu, ô nhiễm môi trường… cũng gây ra những tác động về anh ninh cả trước mắt và lâu dài. Ngoài ra, hàng loạt vấn đề môi trường xuyên quốc gia nổi lên cũng gây ảnh hưởng ngày càng lớn đến ổn định quốc tế và do đó sẽ trở thành thách thức mới đối với các nước” [29, tr. Do đó, trong khi tạo dựng mối quan hệ với Việt Nam, chính quyền Mỹ luôn khẳng định sự quan tâm của mình đến các vấn đề này thông qua bài phát biểu của mình và chuyến thăm cấp cao của tổng thống Bill Clinton tới Việt Nam năm 2000.
Thứ ba, cuộc Cách mạng khoa học kĩ thuật mới bắt đầu từ năm 1970, đặc biệt là cách mạng trong lĩnh vực thông tin phát triển mạnh đã tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội; thúc đẩy xu hướng liên kết và hợp tác kinh tế. Đây vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với các nước trong việc xây dựng đường lối chính sách, định hướng mục tiêu phát triển. Nhân tố này có tác động mạnh đến quan hệ Việt - Mỹ. Những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật, ưu thế về vốn và trình độ quản lý kinh doanh làm cho lực lượng sản xuất của Mỹ phát triển nhanh, dẫn đến nhu cầu mở rộng thị trường.
Trong khi đó, với nguồn lao động rẻ và phong phú về tài nguyên đã tạo nên một thị trường tiềm năng, hấp dẫn các nhà đầu tư, các doanh nghiệp Mỹ ở Việt Nam. Đồng thời, cơ hội cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ giúp Việt Nam đi tắt đón đầu các thành tựu khoa học công nghệ mới phục vụ phát triển đất nước. Xuất phát từ nhu cầu đó, chính quyền Mỹ dần thay đổi chính sách đối với Việt Nam. Bối cảnh khu vực Đông Nam Á Sau Chiến tranh Lạnh, tình hình các nước Đông Nam Á có những chuyển biến lớn: Một là, sau Chiến tranh Lạnh, mâu thuẫn giữa Mỹ với các nước Indonesia, Malaisia và Singapore về vấn đề nhân quyền và thương mại ngày càng trở nên gay gắt.
Đồng thời, tranh chấp lịch sử giữa Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác về quần đảo Trường Sa đã đe dọa hòa bình và an ninh khu vực. Hai là, nằm trong khu vực có nền kinh tế năng động nhất thế giới, khu vực châu Á – Thái Bình Dương, các nước Đông Nam Á đã tăng cường đổi mới công nghệ, tranh thủ nguồn vốn và kĩ thuật từ bên ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế. Sự tồn tại của các cường quốc : 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong khu vực đã trở thành những thực thực thể có trọng lượng về kinh tế - chính trị đe dọa vị trí của Mỹ. Với vị trí chiến lược của Việt Nam, Mỹ đã lựa chọn Việt Nam là nhân tố trong tính toàn cân bằng quyền lực của Mỹ.
Mỹ coi Việt Nam và ASEAN là một lực lượng quan trọng trong chính sách đối trọng với Trung Quốc. Đồng thời, việc Việt Nam gia nhập ASEAN vào năm 1995 đã làm cho mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được cải thiện, từ đó thúc đẩy quan hệ trao đổi hàng hoá và thu hút vốn đầu tư. Gia nhập ASEAN vừa là sự đổi mới tư duy quan trọng của Việt Nam đối với ASEAN vừa thể hiện sự thay đổi cách nhìn của ASEAN và thế giới đối với Việt Nam, chuyển từ đối đầu, nghi kỵ sang hòa bình và hợp tác. Sự kiện 1995 đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của ASEAN, tạo điều kiện để các nước Campuchia, Lào và Myanmar gia nhập Hiệp hội, hoàn tất mục tiêu của Tuyên bố Bangkok về một ASEAN bao gồm tất cả các nước Đông Nam Á và làm cho khu vực mạnh hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm khẳng định “Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN… là một sự kiện chưa từng có trước đây và sẽ là một sự kiện quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực”[46, tr. Do đó, việc thay đổi chính sách đối ngoại với Việt Nam thực sự rất cần thiết bởi nó sẽ bảo đảm mục tiêu khu vực Đông Nam Á của Mỹ. Như vậy, trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và khu vực, là một mắt xích trong quan hệ quốc tế, Mỹ cần thiết hội nhập xu thế chung của thời đại. Để tăng cường hội nhập và mở rộng các mối quan hệ, Mỹ đã thay đổi chính sách đối ngoại với các “địch thủ cũ”, trong đó có Việt Nam.
Tình hình nước Mỹ Về kinh tế, trong Thông điệp Liên bang ngày 25/1/1994, Tổng thống Bill Clinton thừa nhận “trong 12 năm của nền kinh tế chảy nhỏ giọt, chúng ta xây dựng một phồn vinh giả trên một cơ sở khủng khiếp. Chúng ta trải qua sự tăng trưởng chậm nhất trong nửa thế kỉ qua. Đối với rất nhiều gia đình, thì giấc mơ Mỹ đã tan biến”[69]. Sự suy yếu của nền kinh tế Mỹ đã trở thành thách thức nghiêm trọng đối với tham vọng bá chủ của Mỹ.
Tuy nhiên, với chủ trương “tôi sẽ tập trung vào kinh tế như một tia laze” những chính sách của Tổng thống Bill Clinton đã làm cho nền kinh tế Mỹ có bước tăng trưởng đáng kể. Tỷ trọng GDP so với thế giới năm 2000 của Mỹ đạt 31%, gấp đôi so với nền kinh tế thứ hai thế giới là Nhật Bản [12, tr. Mỹ là nước đầu tư ra nước ngoài với giá trị lớn: 152,44 tỷ USD (2000) [42, tr. Đồng thời, với các khoản đóng góp kinh phí cho Liên Hợp Quốc, WB, IMF… (Mỹ góp 18,25% ngân : 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách của IMF trong khi các nước G7 chỉ đóng từ 3-7%; Mỹ chiếm 38% cổ phần của WB), Mỹ đã có tiếng nói và chi phối tới các tổ chức quốc tế lớn [30, tr.
Về khoa học công nghệ, Tổng thống Bill Clinton cho rằng “đầu tư công nghệ là đầu tư vào tương lai của nước Mỹ” [42, tr. 37], an ninh quốc phòng và anh ninh kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau. Mỹ đã điều chỉnh chính sách khoa học và công nghệ phù hợp với nhu cầu phục hưng kinh tế Mỹ và tăng cường quân sự Mỹ. Tính riêng trong năm 1996, Mỹ có 4,63 triệu nhà khoa học.
Đầu tư cho khoa học công nghệ mỗi năm lên tới 150 tỷ USD [9, tr. Về tiềm lực quốc phòng: Ngân sách đầu tư cho lĩnh vực này liên tục tăng, chiếm 41% ngân sách quốc phòng của thế giới. Năm 1990, Mỹ chi 324,6 tỷ USD; 1999 là 263,1 tỷ USD và năm 2000 là 273,8 tỷ USD [42, tr. Mỹ là quốc gia có tiềm lực về vũ khí hạt nhân, không quân, hải quân và vũ khí kĩ thuật cao.
Trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, loại bom thông minh được sử dụng 10% thì đến cuộc không kích Kosovo (Nam Tư) năm 1999 là 70%, trong cuộc chiến tranh ở Afganistan là 90%. Mỹ tiếp tục phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia để tăng cường tiềm lực hạt nhân, vô hiệu hóa hoàn toàn các hệ thống tên lửa tấn công của đối phương. Mặt khác, trong vấn đề chính trị và đối ngoại của Mỹ xuất hiện nhiều xung đột. Nhân dân Mỹ không hài lòng với thực trạng kinh tế và gây sức ép đối với chính phủ Mỹ.
Mâu thuẫn về chủng tộc (đặc biệt vụ Los Angeles), sự cắt giảm chi tiêu trong giáo dục khiến “nhiều trường đại học, trung học và tiểu học bị cắt giảm kinh phí 6%; đến nay có khoảng 3/4 trường đại học thu không đủ chi. Đại học Quốc lập Caliphoocnia giảm hơn 1000 người, buộc phải đóng cửa 5000 lớp”[3, tr. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh Việt Nam đã tiêu tốn của Mỹ không ít tiền của; đặc biệt, giữa Tổng thống và Quốc hội, các thành viên của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, giữa các nhóm lợi ích, giữa người Mỹ với nhau bị bao phủ bởi “Hội chứng Việt Nam” trong lòng nước Mỹ.