CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về uyển ngữ 1. Khái niệm về uyển ngữ Nghiên cứu về uyển ngữ có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, từ khái niệm đến cách nhận biết, tác dụng sử dụng và có cả đối chiếu với các ngôn ngữ khác. Khi xem xét về nguồn gốc, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra uyển ngữ trong tiếng anh là euphemism.
Đây là thuật ngữ bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là nói cho tốt đẹp. Sau này các học giả phương Tây cũng sử dụng thuật ngữ này với hàm nghĩa tương tự. Ở Việt Nam uyển ngữ cũng là vấn đề quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Đinh Trọng Lạc cho rằng “uyển ngữ thuộc nhóm hoán dụ, là hình ảnh tu từ, trong đó người ta thay tên gọi một đối tượng này hoặc một hiện tượng bằng sự miêu tả những dấu hiệu cơ bản của nó, hoặc bằng việc nêu lên những nét đặc biệt của nó.
Uyển ngữ tăng cường tính tạo hình cho lời nói vì nó không chỉ gợi tên đối tượng mà còn miêu tả đối tượng” [35,Tr71]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp giải thích “uyển ngữ là những từ ngữ biểu thị một số sự vật hoặc hiện tượng nào đó một cách gián tiếp, nguỵ trang, lịch sự hoặc giảm nhẹ. Uyển ngữ có thể do nhiều nguyên nhân như tránh thô tục, tránh những từ gây sự đau đớn, xót xa, kiêng tên huý….uyển ngữ còn được gọi là nhã ngữ”[21,Tr473-474]. Phổ biến hơn cả là Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “uyển ngữ là phương thức nói giảm nhẹ, thay cho cách nói bị coi là sỗ sàng dễ làm xúc phạm, làm khó chịu” [44,Tr1346].
Nói tóm lại ta thấy các nhà nghiên cứu đều quan tâm đến nội dung của uyển ngữ. Một cách bao quát nhất ta có thể thấy uyển ngữ là cách dùng một từ hoặc một cụm từ nào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 15 đó có nghĩa tương đương, tránh dùng trực tiếp để tạo tính lịch sự, tránh lối nói thô tục đạt hiệu quả cao trong quá trình giao tiếp. Các hình thức của uyển ngữ 1. Cấu tạo của uyển ngữ Cách phân chia cấu tạo của uyển ngữ trong nhiều trường hợp là không giống nhau.
Xét về mặt cấu tạo của uyển ngữ Tiếng Việt ở đây tôi xin đưa ra bài nghiên cứu uyển ngữ của giảng viên Đoàn Tiến Lực, đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 2(285),2013. Thông qua việc khảo sát và có sự liên hệ tiếng Việt và một số tiếng khác trên thế giới, bài viết đã chia các phương thức cấu tạo uyển ngữ thành ba nhóm: Một là tạo uyển ngữ bằng phương thức ngữ âm; Hai là phương thức từ vựng ngữ nghĩa; Ba là phương thức ngữ pháp. Đây là một cách phân chia khoa học và có cơ sở rõ ràng. Cụ thể như sau: 1.
Tạo uyển ngữ bằng phương thức ngữ âm Đây cũng là một cách dùng thường xuyên trong tiếng Việt. Thông thường khi sử dụng có thể: - Tỉnh lược âm: Người sử dụng có thể lược bỏ một số âm vị trong thành phần cấu tạo của âm tiết. Ví dụ nói người bị H nghĩa là người bị nhiễm HIV/AIDS; người bị K là người mác bệnh ung thư… - Mô phỏng âm: Phát âm theo việc mô phỏng âm thanh của sự vật, hiện tượng cần biểu đạt. Ví dụ rúc rích, lao xao, eo sèo….
- Láy: Là phương thức lặp lại một phần hoặc toàn bộ âm tiết của một từ nào đó. Ví dụ như beo béo, thâm thấp, thì thụp. Phương thức từ vựng, ngữ nghĩa Trong giao tiếp tiếng Việt thì đây là phương thức sử dụng rất phổ biến. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 16 - Dùng từ gần nghĩa hoặc đồng nghĩa, có thể dùng từ hoặc cả ngữ thay cho từ.
Cách dùng này người nghe có thể hiểu được ngay mà tránh làm mất lòng hoặc ít tổn thương nhất. Cách nói tế nhị này là cách sử dụng khá phổ biến trong tiếng Việt. Ví dụ nói chiều cao của chị ấy hơi khiêm tốn, hay anh ấy năng lực có hạn…. - Thay thế từ kiêng bằng từ Hán Việt: Với hơn một nghìn năm Bắc thuộc văn hoá Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề của văn hoá Trung Hoa.
Vì vậy ngôn ngữ đời sống thường ngày của chúng ta ngày nay ít nhiều cũng còn thấy. Nhiều từ Hán Việt có nét nghĩa biểu thị sự trang trọng. Ví dụ như phu nhân, nội y, an tọa, viên tịch…. - Dùng từ vay mượn: Đó là cách sử dụng từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài để thay thế cho những từ kiêng kị hay thô tục mà người nói không muốn nhắc đến khi giao tiếp.
Về tâm lý mọi người sẽ dễ dàng tiếp thu. Ngoài việc sử dụng từ Hán Việt, tiếng Việt cũng tiếp nhận một số tiếng nước ngoài như tiếng Anh hay tiếng Pháp tiếp nhận và Việt hóa trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. Như sex, toilet, nude…. - Dùng cách chuyển nghĩa từ: thay thế cụm từ hoặc cụm từ này bằng từ hoặc cụm từ kia có nét tương đồng hoặc tương cận về nghĩa (Ẩn dụ, hoán dụ).Trong ngữ cảnh cụ thể nó có thể là nghĩa chuyển hoặc ẩn nghĩa đi.
Cách sử dụng này có thể giảm sự miệt thị người khác, giảm sắc thái đau thương, thô tục. Ví dụ rúc rích thay cho quan hệ vợ chồng, mây mưa thay cho quan hệ trai gái…. Phương thức ngữ pháp - Dùng trợ từ phủ định: Không (được) + tính từ + (cho) + lắm Ví dụ: không đẹp lắm thay cho xấu; không thông minh lắm thay cho ngu dốt, không được khá giả thay cho nghèo; không được khỏe thay cho ốm yếu… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 17 - Dùng đại từ ấy, đó: Việc sử dụng các đại từ này thay thế cho từ kiêng tránh nhằm tạo sự mơ hồ, tránh trực diện. Ví dụ cái ấy, cái đó thay cho dương vật/âm vật, chuyện ấy thay cho quan hệ tình dục,… Như vậy đây so với các ngôn ngữ khác, uyển ngữ trong tiếng Việt là cách dùng rất thường xuyên trong giao tiếp bằng ngôn ngữ hàng ngày và trong các tác phẩm văn học.
Đó là cách dùng rất tinh tế và tạo nên cách giao tiếp, ứng xử có văn hoá mà mọi người đều ưa chuộng trong xã hội. Cách phân loại uyển ngữ Việc phân chia uyển ngữ không phải là điều đơn giản, bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tuỳ cách sử dụng mà chúng ta có các cách phân chia khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một số cách phân chia như sau: Một là phân loại theo phạm vi và đối tượng uyển ngữ đề cập có các loại uyển ngữ như: Uyển ngữ liên quan đến chết chóc; bệnh tật; sinh lý….Hai là phân loại theo mục đích sử dụng thì có uyển ngữ có lợi cho người khác, uyển ngữ có lợi rộng rãi và uyển ngữ có lợi cho bản thân.
Thứ ba là cách phân loại phổ biến hơn cả đó là phân loại theo công dụng, chức năng của uyển ngữ. Với cách phân chia này thì có các loại như: Kiêng kị, lịch sự; che giấu; hài hước. - Chức năng kiêng kị: Sự kiêng kị bắt nguồn từ tâm lý con người. Từ xưa tâm lý chung vẫn luôn cho rằng sự vật và hiện tượng thiên nhiên đều liên quan đến thần thánh, vì vậy tránh nhắc đến hoặc nếu đề cập đến thì dùng phương thức biểu đạt thay thế.
Từ đó hình thành nên chức năng kiêng kị của ngôn ngữ. - Chức năng lịch sự: Lịch sự là một tổ hợp các nghi thức được biểu hiện ra trong cách giao tiếp với người xung quanh. Nó bao gồm cả hành động, ngôn ngữ. Tuỳ theo hoàn cảnh, môi trường, đối tượng mà sẽ có cách giao tiếp phù hợp.
Cách xử thế giúp con người đạt được những yêu cầu mong muốn trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 18 quan hệ giao tiếp. Chức năng lịch sự dùng để tránh sự mạo muội, thất lễ, khiếm nhã trong giao tiếp, che giấu những điều khó nói của con người. - Chức năng che giấu: Uyển ngữ có tính chất che đậy tư tưởng, suy nghĩ một cách kín đáo. Vì vậy nó trở thành công cụ cần thiết để phục vụ mục đích giao tiếp cho tất cả mọi người trong phạm vi nhất thời của nó.
- Chức năng hài hước: Chức năng này cũng được sử dụng trong một vài trường hợp nhất định. Dùng cách nói này tạo sự hài hước và làm cho không khí giao tiếp trở nên nhẹ nhàng, tránh sự căng thẳng. Trong bài nghiên cứu của mình chúng tôi nhận diện các uyển ngữ theo nội dung của tác phẩm, gắn liền với đó là các chức năng của các uyển ngữ trong từng tình huống giao tiếp cụ thể. Uyển ngữ trong đời sống và trong văn học 1.
Uyển ngữ trong đời sống Trong đời sống thường ngày ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và xã hội loài người. Đảm bảo một mặt truyền đạt thông tin và tạo cơ sở để hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên trong xã hội. Mặt khác, nó còn tác động đến nhân cách, từ đó hình thành nhân cách của mỗi người. Ngôn ngữ không chỉ là tấm gương phản chiếu thụ động đời sống xung quanh mà còn can thiệp vào bức tranh thế giới nhân cách, vào văn hoá ngôn ngữ của nó, làm biến đổi nhân cách một cách hợp lý.
Chính vì vậy ngay từ thời xa xưa ông bà ta đã quan tâm đến lời ăn tiếng nói hàng ngày, phải đảm bảo sự ứng xử hoà nhã, lịch sự trong quá trình giao tiếp. Đó là một nét đẹp trong ngôn ngữ giao tiếp của người Việt bao đời nay. Trong thực tế giao tiếp, các hoạt động giao tiếp bao giờ cũng bị chi phối bởi ngữ cảnh giao tiếp, từ nhân vật giao tiếp, tới bối cảnh giao tiếp và văn cảnh. Một số các tình huống giao tiếp khiến người nói không thể trực tiếp nói ra điều mình suy nghĩ.
Bởi nếu nói thẳng sẽ khiến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 19 người nghe mất lòng. Vì vậy cách lựa chọn trong những tình huống như vậy người ta có thể nói vòng, nói giảm, nói tránh. Nhằm giảm bớt việc xúc phạm người khác, tránh những bất tiện, tạo nên lời hay ý đẹp trong ứng xử giao tiếp. Bởi con người vốn là tổng hòa các quan hệ xã hội, hết sức phức tạp.
Mỗi người có trình độ kiến thức, học vấn khác nhau, do đó cách tiếp nhận thông tin của họ cũng không giống nhau trong cùng một sự kiện hay vấn đề nào đó.