Phần mở đầu 1. Lý do lựa chọn đề tài 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử vấn đề 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.
Phương pháp nghiên cứu 5. Những đóng góp của Luận văn Phần nội dung Chƣơng 1: Phan Thúc Trực - cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 1. Vài nét về bối cảnh lịch sử giai đoạn đầu thời nhà Nguyễn 2. Vài nét về tiểu sử Phan Thúc Trực 3.
Sự nghiệp sáng tác Chƣơng 2: Một số vấn đề văn bản học của Quốc sử di biên 1. Về bản chép tay QSDB ở Viện Hán Nôm và QSDB in tại Hồng Kông. Về thời điểm ra đời của QSDB 3. Về nội dung các mục "Tham bổ", "Phụ lục", "Ngoại truyện" trong QSDB 4.
Về Trần Lê ngoại truyện Chƣơng 3: Giá trị của Quốc sử di biên 1. Ý đồ và quan điểm biên soạn QSDB 2. Giá trị về sử học 3. Giá trị về văn học, ngôn ngữ 4.
Một số hạn chế Phần Kết luận 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I PHAN THÚC TRỰC - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC Trong chương này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về bối cảnh lịch sử giai đoạn đầu thời Nguyễn (từ 1802-1841) - thời kỳ gắn bó với tác phẩm QSDB và tác giả Phan Thúc Trực [1808-1852]. Tiếp đó, xin giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Phan Thúc Trực, nhằm làm sáng tỏ nhân cách và tài năng của ông trên lĩnh vực sáng tác thơ ca và biên soạn sách lịch sử. Vài nét về bối cảnh lịch sử giai đoạn đầu thời nhà Nguyễn Năm 1802 sau khi đánh bại triều Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ Đàng trong và Đàng ngoài, Nguyễn Ánh tự đặt niên hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn. Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840) đến Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến trong bối cảnh khủng hoảng, suy vong.
Tuy nhiên, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại dưới triều Nguyễn, xã hội Việt Nam gần như không phát triển lên được theo chiều hướng tiến bộ của thời đại, mâu thuẫn xã hội gay gắt làm bùng nổ lên hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân, của các dân tộc ít người và cuối cùng trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Thành lập và thống trị trong thế kỷ XIX, nhà Nguyễn thừa hưởng được những thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ trải dài từ ải Nam Quan đến mũi 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cà Mau. Để thể hiện vị trí của mình, năm 1803, Gia Long cử sứ bộ do Lê Quang Định đứng đầu, sang nhà Thanh xin quốc hiệu và đầu năm 1804 chính thức công bố tên là nước Việt Nam. Năm 1838, Minh Mạng bất bình đã khẳng định lại quốc hiệu là Đại Nam, kinh đô đóng ở Phú Xuân.
Nhà Nguyễn ra đời và tồn tại không những trong một bối cảnh đặc biệt của đất nước mà còn trong tình hình thế giới có nhiều biến chuyển lớn. Thắng lợi của chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu đã kéo theo sự phát triển của chủ nghĩa thực dân và của sự giao lưu buôn bán quốc tế. Hàng loạt nước châu Á lần lượt rơi vào ách đô hộ của thực dân, và Việt Nam không tránh khỏi mối đe dọa đó. Về tổ chức chính quyền, từ sớm Nguyễn Ánh đã đặt quan, phong tướng cho những người phò tá.
Sau khi lấy được toàn bộ Bắc Hà, Nguyễn Ánh xưng vương, kiểm lại hệ thống các đơn vị hành chính cũ, đặt quan chức cai quản. Đương thời Gia Long giữ nguyên cách tổ chức cũ , ở Đàng Ngoài vẫn là trấn, phủ, huyện, xã, ở Đàng Trong thì là trấn, dinh, huyện, xã. Về chính quyền trung ương, Gia Long, Minh Mạng giữ nguyên hệ thống cơ quan cũ của các triều đại trước, vua nắm mọi quyền hành một cách độc đoán, bên dưới là 6 bộ. Để đề cao hơn nữa uy quyền của nhà vua , Gia Long đặt lệ “tứ bất” (nhưng không ghi thành văn bản), tức là không đặt tể tướng, không lập hoàng hậu, không lấy trạng nguyên trong thi cử, không phong tước vương cho người ngoài họ vua.
Bộ máy quan lại thời Nguyễn không cồng kềnh cũng không đông đảo, song khong vì thế mà bớt tệ tham nhũng, năm 1807 Senhô đã nhận xét: “ Dân chúng vô cùng đói khổ, vua quan bóc lột thậm tệ. Công lý là một món hàng mua bán, kẻ giàu có thể công khai sát hại người nghèo và tin chắc rằng với thế lực của đồng tiền, lẽ phải sẽ về tay chúng”. Do ý thức về sự mâu thuẫn của nhà nước và nhân dân, các vua Gia Long, Minh Mạng đã xử rất nghiêm hàng loạt những viên quan to, trong đó ít nhất là 11 Trấn thủ và Hiệp trấn tham nhũng bị cách chức hoặc xử tử. Mặc dù vậy tệ tham lại hàng loạt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vẫn không ngăn chặn được.
Sự bất chính của quan trên đã tạo điều kiện cho bọ cường hào hoành hành…Năm 1855,Tự Đức vẫn còn thừa nhận: “ bọn tổng lý hương hào, nhà nào cũng giàu có, có kẻ tôi tớ hoặc một trăm người, hoặc sáu bảy mươi người, chiêu tập côn đồ, chứa ngầm binh khí, người trong một tổng, một làng hễ chúng hơi nhếch mép hất hàm là phải theo…”. Trong nhưng năm đầu của triều đại, hành động đáng phê phán nhất của nhà Nguyễn là sự trả thù Tây Sơn, năm 1802 trước khi hành hình Nguyễn Quang Toản, Gia Long phải bắt ông xem quân lính đào mộ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cùng vợ chính, lấy hài cốt giã nhỏ, bỏ vào một cái bồ lớn, rồi đái vào…xương đầu thì bỏ vào ngục tối giam trong lâu đài. Đến lượt mình Quang Toản bị voi xé xác, chặt làm 5 khúc bêu ở 5 chợ. Các em của Quan Toản đều bị voi dày.
Trần Quang Diệu bị chém làm trăm mảnh, vợ là Bùi Thị Xuân cũng bị voi dày cùng con gái. Bọn lính đã chia nhau ăn tim gan họ. Đến lượt Minh Mạng, năm 1831 cho lùng bắt toàn bộ hơn 100 con cháu nhà Tây Sơn đưa về xử tử hoặc dày làm nô tì. Về quân đội chế độ binh dịch nặng nề, hầu như 3-4 đinh lấy một.
Để giữ vững lòng trung thành của binh lính, nhà Nguyễn đặt chế độ ruộng lương rất hậu thêm vào đó là mức ruộng khẩu phần cao, tuy vậy tinh thần và chất lượng của quân đội ngày càng sa sút. Về ngoại giao, thái độ của nhà Nguyễn trong quan hệ với nhà Thanh là thần phục một cách mù quáng. Trong lúc đó nhà Nguyễn lại dùng lực lượng quân sự khống chế Cao Miên, đặt thành Trấn Tây bắt Lào thuần phục. Quan hệ với Xiêm cung thất thường, lúc thì thân thiện hòa hoãn, lúc thì tranh chấp.
Đối với các nước phương tây, tinh thần đóng cửa, cự tuyệt vẫn được duy trì cho đến khi bùng nổ cuộc xâm lược của thực dân Pháp. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp thời Nguyễn khá đa dạng phong phú nhưng vẫn không vượt qua khỏi phương thức sản xuất cổ truyền. Chính quyền nhà Nguyễn cũng quan tâm đến việc đắp đê, nạo vét kênh mương nhưng trong công cuộc trị thủy nói chung không có kết quả gì khả quan, nhà Nguyễn đã tỏ ra bất lực. Trong khi đó thiên tai mất mùa, dịch bệnh xảy ra liên miên đã ảnh hưởng to lớn đến đời sống của nhân dân.
Về tình hình xã hội và đời sống của nhân dân, cũng như ở các triều đại trước, dưới thời Nguyễn, xã hội Việt Nam chia thành hai giai cấp lớn thống trị và bị trị. Giai cấp thống trị bao gồm vua, quan, thơ lại trong hệ thống chính quyền và giai cấp địa chủ. Vua và hoàng tộc giờ đây đã trở thành một lớp người đông đảo, có đặc quyền nhất là con cháu gần gũi của nhà vua. Họ có đinh thự, ruộng vườn rộng rãi và được một hệ thống cơ quan, đứng đầu là phủ Tôn nhân chăm lo bảo vệ.
Các quan chức xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau nhưng do vị thế của mình đã trở thành người đối lập với nhân dân, hạch sách và bóc lột nhân dân, tất nhiên trong số họ cũng có người thanh liêm, trung thực biết lo lắng cho cuộc sống của nhân dân, sự ổn định của xã hội. Giai cấp địa chủ giờ đây đã trở thành một lực lượng đông đảo, vừa có thế ở quan trường vừa có nhiều quyền uy ở làng xã. Giai cấp bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân và một số dân nghèo thành thị. Lớp người bị lưu đày, nô tì cùng gia quyến sống ở các đồn điền cũng tăng lên đáng kể.
Tuyệt đại đa số đời sống của nhân dân là vô cùng nghèo khổ, họ là lớp người gánh chịu mọi tai họa của tự nhiên, mọi thiệt thòi, bất công của xã hội. Những người dân có ít ruộng thì thuế khóa nặng nề, sự bất công và lộng hành làm cho người dân vô cùng cực khổ, bên cạnh đó thiên tai mất mùa xảy ra thường xuyên đe dọa cuộc sống của người dân nghèo. Sau mỗi lần vỡ đê lụt lội lớn, mùa màng hư hại, nhân dân phải bỏ làng đi phiêu tán kiếm ăn. Nhà nước Nguyễn tìm mọi cách cứu đói như mở các kho thóc phát chẩn, cho vay, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vận động các nhà giàu cho vay thóc không lấy lãi.
Biết bao người tham gia vào các cuộc khẩn hoang lớn để rồi tạo được một cuộc sống ổn định sung túc. Nhưng còn lại biết bao nhiêu người không tìm ra lối thoát, chất chứa căm thù vua quan nhà Nguyễn và bọn địa chủ tàn ác. Họ đã nổi dậy, đã có nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân nổ ra. Triều đình Nguyễn nắm trong tay một lực lượng quân sự to lớn, đã lợi dụng những sai lầm sơ hở của các cuộc khởi nghĩa để đàn áp.
Tuy nhiên những chính sách kinh tế xã hội của nhà Nguyễn không làm dịu bớt những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội, cho tới năm 1858 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, thì xã hội Việt Nam đang nằm trong tình trạng rối ren phức tạp và đầy rẫy những khó khăn. Về văn hóa, ngay sau khi ổn định nhà nước phong kiến, để khẳng định sự nghiệp vẻ vang của tổ tiên dòng họ nhà Nguyễn đã chú ý đến việc biên soạn các sách sử.