Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Nghiên cứu phương pháp viết sử của sử gia Việt Nam qua bộ quốc sử thời Lê Đại Việt sử ký toàn thư" do nghiên cứu sinh Ye Shao Fei thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 922 01 04), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Đinh Khắc Thuân và PGS.TS. Nguyễn Tuấn Cường (năm 2022).
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) là bộ quốc sử giữ vị trí quan trọng trong lịch sử và học thuật Việt Nam. Tác phẩm trải qua quá trình biên soạn kéo dài hơn 400 năm: khởi đầu từ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (1272 đời Trần Thánh Tông), Phan Phu Tiên biên soạn tiếp (1445 đời Lê Nhân Tông), Ngô Sĩ Liên kế thừa và hoàn thành bộ 15 quyển (1479 đời Lê Thánh Tông), Phạm Công Trứ bổ sung, chỉnh lý thành 23 quyển (1665), và Lê Hy hoàn thành bản 24 quyển được khắc in vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước tiếp cận bộ sử này, giới nghiên cứu vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất, đặc biệt là sau khi văn bản ĐVSKTT bản in Chính Hòa - Nội các quan bản (NCQB) được công bố. Các vấn đề về mộc bản, niên đại in ấn thực tế, các lớp văn bản đan xen, cũng như sự chi phối của quyền lực chính trị qua từng triều đại đối với cách thức, thể tài và tư tưởng của các sử gia vẫn là khoảng trống cần khảo cứu toàn diện. Luận án xác định khái niệm "phương pháp viết sử" tập trung vào thể tài, cách thức xử lý sử liệu và tư tưởng sử học của các sử quan, thay vì các thao tác kỹ thuật biên chép cụ thể.
-
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ các lớp văn bản của bộ ĐVSKTT thông qua việc khảo sát, phân loại hệ thống văn bản hiện còn, đặc biệt là bản NCQB lưu trữ tại Pháp và Nhật Bản.
- Xác định quan điểm, phương pháp viết sử và tư tưởng sử học của từng sử gia tham gia biên soạn, chỉnh lý và hoàn thiện bộ sử qua các thời kỳ (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy).
- Làm sáng tỏ quá trình phát triển của bộ ĐVSKTT và diễn tiến lý luận sử học cổ đại Việt Nam từ góc độ văn bản học và văn hiến học Hán Nôm.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Sưu tập, hệ thống hóa và khảo cứu các dị bản ĐVSKTT, đối chiếu giám định để lựa chọn văn bản nền phục vụ nghiên cứu.
- Phân tích các văn bản quy chuẩn như bài tựa, mục lục, phàm lệ (trọng tâm là bài Phàm lệ tục biên của Lê Hy), bản tâm, chữ húy và đặc điểm ván khắc để phục dựng quá trình truyền bản và phân định các tổ hợp mộc bản.
- Khảo sát các thể biên soạn của bộ sử: thể biên niên, kỷ truyện, cương mục (Đại thư và Phân chú), sự phân định Ngoại kỷ, Bản kỷ, Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên.
- Phân tích hệ thống tư tưởng sử học: quan niệm Nho giáo, ý thức hệ chính thống, Thiên mệnh quan và tinh thần tự tôn văn hiến dân tộc.
-
Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp viết sử của các sử gia tham gia biên soạn ĐVSKTT và các sử gia Việt Nam thời trung đại; văn bản học bộ ĐVSKTT nói chung và bản NCQB nói riêng; sự truyền thừa và biến chuyển tư tưởng học thuật qua từng giai đoạn lịch sử.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Về văn bản: Nghiên cứu các dị bản ĐVSKTT tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Hội Á Châu (Paris), Thư viện Quốc gia Pháp, Văn khố Tư Đạo (Đại học Keio), Thư viện Đại học Tenri (Nhật Bản); cùng các bộ sử có liên quan mật thiết gồm Đại Việt sử ký, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược, Đại Việt thông sử, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
- Về thời gian: Lịch sử biên soạn và phạm vi ghi chép trải dài từ thời Lý (1010-1225) đến thời Lê Trung hưng cuối thế kỷ XVII.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến ĐVSKTT theo 6 nhóm chuyên đề:
-
Về Mục lục học và Thư tịch học:
- Léopold Cadière và Paul Pelliot (1904) trong bài Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam đã giới thiệu tiến trình phát triển thư tịch cổ và quan hệ giữa ĐVSKTT với các sách lịch sử khác.
- Émile Gaspardone (1934) công bố Bibliographie Annamite, phân loại sách cổ Việt Nam, ghi chép tiểu sử tác giả và đánh giá môi trường soạn sử của ĐVSKTT từ thời Lê đến bản Đại Việt sử ký tiền biên.
- Phùng Thừa Quân (1932) với An Nam thư mục và Yamamoto Tatsuro (1937) với thư mục sách Hán Nôm tàng trữ tại Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Hà Nội đều ghi nhận các ấn bản ĐVSKTT.
- Trần Văn Giáp (1936) dịch Les Chapitres bibliographiques de Phan Huy Chú (sau được Hoàng Dật Cầu dịch sang chữ Hán là Việt Nam điển tịch khảo), bài viết Lược khảo về bộ ĐVSKTT cùng tác giả của nó (1964) và công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm tập I (1970) đã khảo cứu quy mô 15 quyển của Ngô Sĩ Liên và bản khắc in 24 quyển năm 1697.
- Huyền Khắc Dụng (1959) trong Việt Nam sử liệu; Trần Nghĩa và François Gros (1984/1993) chủ biên Di sản Hán Nôm Thư mục đề yếu; Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thuẫn, Trần Nghĩa (2002) chủ biên Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu; Lưu Ngọc Quân (2008) với Nghiên cứu văn hiến học cổ tịch Hán Nôm Việt Nam.
-
Về Văn bản học ĐVSKTT:
- Phan Huy Lê (1983) công bố bài ĐVSKTT: Tác giả - văn bản - tác phẩm trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử sau khi tiếp cận bản in từ Thư viện Hội Á Châu (Paris), khẳng định bản NCQB là bản Chính Hòa 1697 (bài này được Đặng Quảng Sâm dịch và Đặng Thủy Chính hiệu đính sang chữ Hán năm 1985).
- Vũ Thượng Thanh (1986, 1987) nghiên cứu tiến trình hình thành ĐVSKTT tại Trung Quốc, thảo luận về ngữ nghĩa của chữ "viết" (nói hay soạn sử) trong các đoạn dẫn lời Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngày 16/4/1988 của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam công bố 16 tham luận chia làm 3 nhóm: nhóm niên đại (Lê Trọng Khánh, Phan Huy Lê, Nguyễn Tài Cẩn, Trần Nghĩa, Nguyễn Quang Hồng, Vũ Minh Giang, Ngô Thế Long); nhóm cơ quan Nội các (Đỗ Văn Ninh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Gia Phu; phía phản biện có Bùi Thiết cho rằng Nội các thuộc thời Nguyễn); nhóm ấn chương và bìa bản in (Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí, Chu Quang Trứ), đi đến nhận định bản NCQB in thời Lê - Trịnh theo hệ thống ván khắc 1697.
- Ngô Thế Long (1988) phát hiện bản in ván gỗ của Phạm Công Trứ từ tủ sách Nguyễn Văn Huyên; Quách Chấn Đạc (1989, 1990) nghiên cứu bản Tục biên của Phạm Công Trứ và bản Lê Hy; Hasuda Takashi (2003) khảo sát bản Nguyễn Văn Huyên và xếp vào cuối thời Lê Trung hưng; A. Fedorin (2008/2011) vận dụng phương pháp định lượng và hình thức học, nhận định bản NCQB do Ngô Thì Sĩ và Phạm Nguyễn Du biên soạn vào thế kỷ XVIII; Trần Kim Đỉnh (2015), Tạ Vinh Toàn (2015) và Ye Shao Fei (2021) khảo sát truyền bản khắc in.
-
Về mối quan hệ giữa các bộ sách sử:
- Yamamoto Tatsuro (1952), Trần Văn Giáp (1970), Trần Kinh Hòa (1980; Lý Tháp Na dịch 1983), Trương Tiếu Mai và Quách Chấn Đạc (1997), Ngô Thu Yến (2009) tranh luận về mối quan hệ giữa Việt sử lược, Việt chí của Trần Chu Phổ và Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu; Nguyễn Đổng Chi (1982), Ngưu Quân Khải (2015), Ye Shao Fei (2020) nghiên cứu các bản Tục biên gắn với bối cảnh tôn sùng chúa Trịnh; Nguyễn Hữu Tâm (2009) khảo cứu Quốc sử quán triều Nguyễn; Nguyễn Thị Oanh (2013) nghiên cứu 9 bản chép tay Đại Việt sử ký và bản A.1272/1-4 của Tập Hiền Viện thời Nguyễn.
-
Về phương pháp và tư tưởng viết sử:
- Nguyễn Phương (1962), O.W. Wolters (1979), Nguyễn Duy Hinh (1984) khảo cứu tư tưởng Nho - Phật trong lời bình của Lê Văn Hưu; công trình Ngô Sĩ Liên và ĐVSKTT (1998) do Phan Đại Doãn chủ trì tập hợp các nghiên cứu của Phan Đại Doãn, Đặng Văn Tu, Nguyễn Hải Kế, Hoàng Hồng, Hà Văn Tấn, Trần Bá Chí, Nguyễn Danh Phiệt, Nguyễn Thừa Hỷ, Momoki Shiro, Nguyễn Quang Ngọc; Hoàng Văn Lâu (1999) phân tích lối viết truyện cho nhân vật trong sử biên niên; Đinh Quang Trung (2000), Yu InSun (2006), Văn Tạo (2008), Vương Phượng Hoa (2010); cùng các công bố trước đó của nghiên cứu sinh Ye Shao Fei (2011, 2012, 2014, 2015, 2016, 2019).
-
Về nội dung sử liệu và tác giả:
- Văn Tân (1966), Wada Hironori (1978), Lê Thành Lân (1988), Trần Nghĩa (1989 - công bố chữ kiêng húy "Trừ" trên bản NCQB), Nguyễn Hữu Sơn (2009), Nguyễn Công Việt (2010), Ye Shao Fei (2013), Lương Mậu Hoa (2014), Giả Cái Đông (2014), Phùng Tiểu Lộc và Trương Hoan (2016); các chuyên khảo về hành trạng sử gia Lê Văn Hưu (Trần Huy Liệu 1959, Nguyễn Kha và Trần Huy Bá 1964, Đặng Đức Thi 1994, 2000), Ngô Sĩ Liên (Lê Đình Sỹ, Trương Hữu Quýnh, Hoàng Văn Lâu, Hoàng Văn Khoán, Vũ Văn Quân, Nguyễn Hữu Thức, Bùi Anh Tỉnh 1998), Nguyễn Quý Đức (Tạ Ngọc Liễn 2000).
-
Về các văn bản chỉnh lý đã công bố: Bản khắc in của Hikita Toshiaki (Tri Sơn Đường, Nhật Bản, 1883); bản dịch tiếng Việt của Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính (1967, 1971); công trình Hiệu hợp bản ĐVSKTT của Trần Kinh Hòa (Tokyo, 1984-1986); bản dịch và ảnh ấn của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983-1993, 2011); bản chỉnh lý của Nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc (2015).
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Giới nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng ở việc khảo cứu tác giả đơn lẻ hoặc giám định niên đại bản NCQB theo từng chi tiết cô lập. Luận án đi sâu giải quyết cấu trúc văn bản học phức hợp của bản NCQB, chứng minh sự tồn tại của hai bộ ván khắc hợp thành bản Démiville, khôi phục hệ thống phân quyển từ thời Phạm Công Trứ qua Lê Hy đến bản NCQB, và hệ thống hóa toàn diện phương pháp, thể tài cùng tư tưởng viết sử của tập thể sử quan thời Lê.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình học thuật trong nước và quốc tế theo 6 phương diện chính: mục lục học và thư tịch học, văn bản học, mối quan hệ giữa các bộ sách sử, phương pháp và tư tưởng viết sử, nội dung sử liệu, và hành trạng các sử gia cùng văn bản dịch/chỉnh lý đã công bố. Tác giả chỉ ra rằng các đánh giá về giá trị sử liệu của ĐVSKTT cơ bản đạt sự nhất trí cao, nhưng các vấn đề về niên đại bản khắc NCQB, cấu trúc ván in, và sự diễn tiến tư tưởng từ thời Trần qua Lê sơ đến Lê Trung hưng vẫn cần một khảo sát văn bản học tỉ mỉ và đồng bộ.
Chương 2: Khảo sát văn bản và truyền bản ĐVSKTT
Chương này khảo sát mạng lưới văn bản ĐVSKTT hiện còn (Việt Nam có 6 bản, Pháp có 7 bản, Nhật Bản có 7 bản) và tập trung phân tích bản NCQB của Paul Démiville:
- Phân tích bài "Phàm lệ tục biên" của Lê Hy:
- Văn bản trong Phàm lệ tục biên nêu: "Ngoại kỷ toàn thư từ Hồng Bàng thị đến Ngô Sứ quân, cựu sử biên thành một tập...". Nghiên cứu sinh đối chiếu và xác định khái niệm "Cựu sử" ở đây chính là bộ ĐVSKTT 23 quyển do Phạm Công Trứ biên soạn năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), chứ không phải là bản 15 quyển của Ngô Sĩ Liên (vốn xếp Ngô Sứ quân ở đầu Bản kỷ) hay Đại Việt thông giám thông khảo của Vũ Quỳnh.
- Lê Hy nhận xét bố cục của Phạm Công Trứ chia tập chưa hợp lý, nên đã chia các tập có dung lượng lớn thành Thượng - Hạ (như chép về Lê Thánh Tông chia thành quyển 12 và quyển 13).
- Bản NCQB hiện lưu hành đã tiến hành tái cơ cấu: chia Ngoại kỷ thành 5 quyển và đánh số lại 19 quyển Bản kỷ, phá vỡ bố cục gốc thời Chính Hòa của Lê Hy.
Dưới đây là bảng đối chiếu phục dựng bố cục thiên chương giữa ba văn bản do luận án tổng hợp:
| Nội dung sử liệu |
Cựu sử Phạm Công Trứ |
Bản Chính Hòa của Lê Hy |
NCQB |
Ghi chú của NCQB |
| Hồng Bàng thị đến Ngô Sứ quân |
1 tập |
Quyển 1 (chia Thượng - Hạ 2 tập) |
Quyển 1, 2 |
Ngoại kỷ toàn thư quyển 1 đến quyển 5 |
| Nhà Đinh |
Quyển 2 |
Quyển 3 |
Quyển 3 |
Bản kỷ toàn thư quyển 1 |
| Nhà Tiền Lê |
Quyển 3 |
Quyển 4 |
Quyển 4 |
Bản kỷ toàn thư quyển 1 |
| Lý Thái Tổ đến Chiêu Hoàng |
1 tập |
Quyển 4 (chia Thượng - Hạ 2 tập) |
Quyển 5, 6 |
Bản kỷ toàn thư quyển 2, 3, 4 |
| Trần Thái Tông đến Minh Tông |
1 tập |
Quyển 5 (chia Thượng - Hạ 2 tập) |
Quyển 7, 8 |
Bản kỷ toàn thư quyển 5, 6 |
| Trần Hiến Tông đến Trùng Quang Đế |
1 tập |
Quyển 6 (chia Thượng - Hạ 2 tập) |
Quyển 9, 10 |
Bản kỷ toàn thư quyển 7, 8, 9 |
| Thuộc Minh |
Quyển 7 |
|
|
|
| Lê Thái Tổ |
Quyển 8 |
Quyển 11 |
Quyển 11 |
Bản kỷ toàn thư quyển 10 |
| Lê Thái Tông |
Quyển 9 |
Quyển 12 |
Quyển 12 |
Bản kỷ toàn thư quyển 11 |
| Lê Nhân Tông |
Quyển 10 |
Quyển 13 |
Quyển 13 |
Bản kỷ toàn thư quyển 11 |
| Thánh Tông Thuần Hoàng Đế |
1 tập |
Quyển 11 (chia Thượng - Hạ 2 tập) |
Quyển 14, 15 |
Bản kỷ thực lục quyển 12, 13 |
| Hiến Tông |
Quyển 12 |
|
|
Bản kỷ thực lục quyển 14 |
| Túc Tông |
Quyển 13 |
Quyển 16 |
Quyển 16 |
Bản kỷ thực lục quyển 14 |
| Uy Mục Đế |
Quyển 14 |
|
|
Bản kỷ thực lục quyển 14 |
| Tương Dực Đế |
Quyển 15 |
|
|
Bản kỷ thực lục quyển 15 |
| Đà Dương Vương |
Quyển 16 |
|
|
Bản kỷ thực lục quyển 15 (chính văn ghi Chiêu Tông) |
| Cung Hoàng |
Quyển 17 |
Quyển 17 |
Quyển 17 |
Bản kỷ thực lục quyển 15 |
| Trang Tông |
Quyển 18 |
Quyển 18 |
Quyển 18 |
Bản kỷ tục biên quyển 16 |
| Trung Tông |
Quyển 19 |
|
|
Bản kỷ tục biên quyển 16 |
| Anh Tông |
Quyển 20 |
|
|
Bản kỷ tục biên quyển 16 |
| Thế Tông |
Quyển 21 |
Quyển 19 |
Quyển 19 |
Bản kỷ tục biên quyển 17 |
| Kính Tông |
Quyển 22 |
|
|
Bản kỷ tục biên quyển 17 |
| Thần Tông, Chân Tông, Thần Tông |
1 tập |
Quyển 20, 21, 22 (chia Thượng - Hạ 2 tập) |
Quyển 20, 21, 22 |
Bản kỷ tục biên quyển 18 |
| Huyền Tông |
Quyển 23 |
Quyển 23 |
Quyển 23 |
Bản kỷ tục biên quyển 19 |
| Gia Tông |
|
Quyển 24 |
Quyển 24 |
Bản kỷ tục biên quyển 19 |
- Phát hiện về cấu trúc bản NCQB của Paul Démiville:
Qua giám định bản tâm (bộ trên, bộ trung) và chữ đề quyển vĩ, luận án phát hiện bản Démiville được ghép thành từ hai bộ ván khắc in khác nhau:
- Bộ thứ nhất ("Bản ĐVSKTT"): Gồm phần quyển thủ (các bài tựa, biểu, phàm lệ, mục lục), Ngoại kỷ toàn thư từ quyển 1 đến quyển 5, và Bản kỷ toàn thư từ quyển 1 đến quyển 7. Tại bản tâm bộ trên của các phần này đều khắc thống nhất dòng chữ "Đại Việt sử ký toàn thư".
- Bộ thứ hai ("Bản Việt sử"): Gồm Bản kỷ toàn thư từ quyển 8 đến hết Bản kỷ tục biên quyển 19. Bản tâm bộ trên không khắc chữ "Đại Việt sử ký toàn thư" mà khắc đổi thành "Việt sử bản kỷ", "Việt sử thực lục", "Việt sử tục biên" (riêng quyển 11 khắc "Đại Việt sử ký thông giám tục biên"). Nét chữ khắc giữa hai bộ phận này thể hiện sự dị biệt rõ rệt.
Dưới đây là bảng tổng hợp các điểm khác biệt hình thức giữa hai bộ phận ván khắc trong bản Démiville:
| Quyển thủ |
Bản tâm bộ trên |
Bản tâm bộ trung |
Quyển cuối (Quyển vĩ) |
Ghi chú |
| Đại Việt sử ký tục biên tự |
Chưa ghi |
Chưa ghi |
Chưa ghi |
|
| Đại Việt sử ký tục biên thư |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Chưa ghi |
Chưa ghi |
|
| ĐVSKTT Ngoại kỷ toàn thư tự |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Chưa ghi |
Chưa ghi |
|
| Nghĩ tiến ĐVSKTT biểu |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Biểu |
Chưa ghi |
|
| Toản tu ĐVSKTT phàm lệ |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Phàm lệ |
Chưa ghi |
|
| Tục biên phàm lệ |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Phàm lệ |
Chưa ghi |
|
| Đại Việt sử ký kỷ niên mục lục |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Mục lục |
Chưa ghi |
|
| Việt giám thông khảo tổng luận |
Việt giám thông khảo tổng luận |
Chưa ghi |
Chưa ghi |
Bài của Lê Tung thêm vào |
| Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển chi nhất |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Hồng Bàng thị kỷ Q1; Thục kỷ Q1 |
Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển 1, hết |
|
| Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển chi nhị |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Triệu Vũ Đế Q2; Triệu Văn Vương Q2; Triệu Ai Vương Q2; Triệu Thuật Dương Vương Q2 |
Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư Q2, hết |
|
| Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển chi tam |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Thuộc Tây Hán kỷ Q3; Thuộc Đông Hán kỷ Q3; Sĩ Vương kỷ Q3 |
Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển 3, hết |
|
| Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển chi tứ |
Đại Việt sử ký toàn thư |
Thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương kỷ Q4; Tiền Lý kỷ Q4; Triệu Việt Vương kỷ Q4; Hậu Lý kỷ Q4 |
Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư quyển 4, hết |
|
- Khảo sát văn bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Quốc tử giám: Luận án xác định bộ sách mang ký hiệu VHv.2330-2336 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có cấu trúc và vết ván in gần gũi nhất với bản Démiville. Đồng thời, đối chiếu với các bản in của Quốc tử giám triều Nguyễn (như bản A.3/4, VHv.179) để chỉ ra các vết khoét chữ húy (như chữ Trừ 除) và các tờ ván được khắc bổ sung thời Nguyễn.
Chương 3: Các Thể biên soạn của ĐVSKTT
Chương 3 đi sâu phân tích sự hình thành và vận dụng các thể tài sử học trong ĐVSKTT:
- Thể biên soạn của Lê Văn Hưu: Kế thừa thể biên niên truyền thống, lấy việc ghi chép theo ngày tháng năm làm trục chính, vận dụng thủ pháp của kinh Xuân Thu và Tư trị thông giám; đặt các đoạn luận bàn mang danh nghĩa "Lê Văn Hưu viết" để biểu thị chính thống và răn dạy đạo lý luân thường.
- Thể biên soạn của Ngô Sĩ Liên: Xây dựng kết cấu hai phần rạch ròi gồm Ngoại kỷ (từ Hồng Bàng thị đến hết thời kỳ Mười hai sứ quân) và Bản kỷ (từ Đinh Tiên Hoàng trở đi). Ngô Sĩ Liên chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thể kỷ truyện trong Sử ký của Tư Mã Thiên (đặc biệt là mô hình Ngũ Đế bản kỷ để viết Hồng Bàng thị kỷ và Thục kỷ dựa trên tư liệu dã sử trong Lĩnh Nam chích quái), đồng thời tích hợp lối viết truyện cho các nhân vật lịch sử lồng ghép trong thể biên niên.
- Thể tài Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên của Phạm Công Trứ và Lê Hy: Phạm Công Trứ đưa thể tài "Thực lục" (chép tỉ mỉ thời kỳ khởi lập và thịnh trị triều Lê sơ từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng) và "Tục biên" (chép thời kỳ phân tranh từ Lê Trang Tông trở đi) vào hệ thống quốc sử.
- Thể tài Cương mục (Đại thư và Phân chú): Vận dụng phép tắc của Chu Hy trong Tư trị thông giám cương mục. Sử dụng chữ lớn ("Đại thư" 大書) để nêu bật cương lĩnh sự kiện chính thống; sử dụng chữ nhỏ chia hai dòng ("Phân chú" 分注) để hạ bệ niên hiệu Bắc triều, thời kỳ tiếm vị của nhà Mạc hoặc ghi chú bổ sung tình tiết, nhằm biểu đạt nguyên tắc "tôn chính thống, truất tiếm ngụy".
Chương 4: Tư tưởng viết sử trong bộ ĐVSKTT
Chương 4 khảo cứu sự diễn tiến tư tưởng sử học qua các giai đoạn lịch sử:
- Tư tưởng của các sử gia trước thời Lê sơ (Lê Văn Hưu): Lê Văn Hưu lấy chuẩn mực Nho giáo làm thước đo đánh giá đế vương và quan lại, thường xuyên viện dẫn lời Khổng Tử, nhấn mạnh đạo Trung - Hiếu; tuy nhiên quan điểm lịch sử của ông vẫn còn ảnh hưởng của thế giới quan thời Trần và chưa đẩy lịch sử dân tộc vượt trước thời Triệu Vũ Đế.
- Tư tưởng của các sử gia thời Lê sơ (Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên): Tư tưởng Nho giáo độc tôn thời Lê Thánh Tông chi phối toàn bộ ngòi bút sử học; quan niệm "Nho đạo tức Sử đạo", lấy việc viết sử làm gương răn chính trị; Ngô Sĩ Liên đưa kỷ Kinh Dương Vương, Hùng Vương, An Dương Vương vào đầu quốc sử nhằm khẳng định cội nguồn độc lập, vị thế văn hiến ngàn năm ngang hàng với các triều đại Trung Hoa.
- Tư tưởng của các sử gia thời Lê Trung hưng (Phạm Công Trứ, Lê Hy): Phản ánh sự thích ứng với bối cảnh thể chế "vua Lê - chúa Trịnh". Các sử quan vừa giữ vững tính chính thống tối cao của hoàng đế nhà Lê trên danh nghĩa văn bản, vừa từng bước sử dụng ngòi bút sử học để khẳng định và hợp thức hóa vị thế cầm quyền thực tế của dòng chúa Trịnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do điều kiện tiếp cận tư liệu thực địa, luận án chưa thể khảo sát trực tiếp toàn bộ các bản in cổ đang phân tán tại các bộ sưu tập tư nhân; tại Trung Quốc, theo khảo sát của các nhà nghiên cứu, hiện chưa phát hiện được bản ĐVSKTT thời Lê mà chỉ lưu giữ các bản phái sinh như Đại Việt sử ký tiền biên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đối chiếu văn bản ĐVSKTT với hệ thống châu bản triều Nguyễn, địa phương chí, bi ký và gia phả của các dòng họ sử quan; tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật đục khoét mộc bản và quy trình in ấn tại các cơ sở in cổ truyền Việt Nam trong tương quan so sánh với khu vực Đông Á.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên ngành Hán Nôm, Lịch sử, Văn bản học: Luận án cung cấp hệ thống thư mục tường giải về các dị bản ĐVSKTT trên thế giới; phương pháp giám định bản tâm, quyển vĩ, vết khoét bản và phân tích chữ kiêng húy là tư liệu tham khảo cho công tác giám định cổ tịch Hán Nôm.
- Đối với giới nghiên cứu sử học và cơ quan quản lý di sản: Các phát hiện về cấu trúc hai bộ ván khắc trong bản Démiville và bố cục phân quyển thời Chính Hòa là cơ sở khoa học phục vụ công tác hiệu đính, dịch thuật và tái bản bộ quốc sử ĐVSKTT trong tương lai.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm "Cựu sử" trong bài "Phàm lệ tục biên" của Lê Hy được luận án xác định là công trình nào?
Trả lời: Luận án xác định "Cựu sử" được đề cập trong Phàm lệ tục biên chính là bộ ĐVSKTT gồm 23 quyển do nhóm sử quan đứng đầu là Phạm Công Trứ biên soạn và hoàn thành vào năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), chứ không phải là bản 15 quyển của Ngô Sĩ Liên hay bộ sách của Vũ Quỳnh.
-
Bản Nội các quan bản (NCQB) của Paul Démiville cấu thành từ những bộ ván khắc nào?
Trả lời: Qua khảo sát bản tâm và chữ đề quyển vĩ, bản Démiville gồm hai bộ ván khắc hợp thành: bộ thứ nhất mang dòng chữ "Đại Việt sử ký toàn thư" tại bản tâm (gồm quyển thủ, Ngoại kỷ q.1-5, Bản kỷ q.1-7); bộ thứ hai mang dòng chữ "Việt sử bản kỷ", "Việt sử thực lục", "Việt sử tục biên" tại bản tâm (gồm Bản kỷ q.8 đến Tục biên q.19).
-
Văn bản ĐVSKTT nào tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có đặc điểm gần với bản Démiville nhất?
Trả lời: Luận án xác định bộ sách mang ký hiệu VHv.2330-2336 lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là văn bản có nét chữ khắc và cấu trúc bản in gần gũi nhất với bản NCQB của Paul Démiville.
-
Bản NCQB đã can thiệp như thế nào vào bố cục phân quyển thời Chính Hòa của Lê Hy?
Trả lời: Bản Chính Hòa của Lê Hy gộp các nội dung lịch sử thành các quyển lớn và chia Thượng - Hạ (như triều Lê Thánh Tông chia làm quyển 12 và quyển 13), trong khi bản NCQB tiến hành chia tách Ngoại kỷ toàn thư thành 5 quyển và tái phân chia các phần còn lại thành 19 quyển Bản kỷ, làm thay đổi cấu trúc phân quyển ban đầu.
-
Vì sao luận án chọn bản NCQB của Paul Démiville làm bản nền nghiên cứu?
Trả lời: Vì đây là bản in rõ ràng, đầy đủ, bảo lưu các dấu tích mộc bản từ thời Lê và giữ vị trí trung tâm trong các cuộc tranh luận văn bản học quốc tế kể từ khi được học giới công bố.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Ye Shao Fei đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề văn bản và phương pháp viết sử trong bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư. Thông qua thao tác văn hiến học và văn bản học nghiêm cẩn, công trình đã chứng minh tính chất đa tầng của bản Nội các quan bản, phân định ranh giới giữa hai tổ hợp mộc bản cấu thành bản Démiville và phục dựng quá trình tái cấu trúc phân quyển qua các thời kỳ. Đồng thời, luận án làm sáng tỏ sự tương tác chặt chẽ giữa các thể tài biên soạn (Biên niên, Kỷ truyện, Cương mục) với sự phát triển của hệ tư tưởng sử học chính thống từ thời Trần qua thời Lê sơ đến thời Lê Trung hưng. Công trình đóng góp nguồn cứ liệu xác thực cho việc nghiên cứu lịch sử sử học và di sản văn hiến Hán Nôm Việt Nam.