Chương 1: Cơ sở pháp lý và yếu tố tác động đến hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong vấn đề Biển Đông Chương 2: Thực trạng triển khai các hình thức hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong vấn đề Biển Đông Chương 3: Nhận định về tương lai hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong vấn đề Biển Đông và khuyến nghị 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC GIỮA CÁC QUỐC GIA ASEAN TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG 1. Khái quát vấn đề Biển Đông 1. Tầm quan trọng của Biển Đông Khái quát về Biển Đông: Biển Đông là một vùng biển nửa kín nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương, trải rộng từ 3o vĩ Bắc đến 26o vĩ Bắc và từ 100o kinh Đông đến 121o kinh Đông. Diện tích bề mặt Biển Đông khoảng 3.000 km2, độ sâu trung bình khoảng 1.140 m và độ sâu cực đại khoảng 5.
Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và vùng lãnh thổ Đài Loan [20, tr. Biển Đông được xem là tài sản chung của thế giới và khu vực, bởi vị trí địa kinh tế, địa chiến lược quan trọng của nó, cụ thể: Đối với lĩnh vực kinh tế - xã hội: Thứ nhất, Biển Đông là vùng biển mà trong lòng biển và dưới đáy biển tàng trữ nhiều tài nguyên sinh vật và khoáng sản quan trọng đối với đời sống và sự phát triển kinh tế của các quốc gia xung quanh. Theo ước tính, Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng với hơn 160.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển này [5]. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó các loài cá chiếm khoảng 86% tổng trữ lượng.
Ước tính có khoảng 70% dân số các nước Đông Nam Á sinh sống ven biển và lượng thủy hải sản được đánh bắt ở khu vực Biển Đông chiếm khoảng 10% tổng trữ lượng đánh bắt trên thế giới, cung cấp 25% nhu cầu protein cho 500 triệu dân [20, tr. Do đó, nhiều quốc gia đang đẩy mạnh xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế biển, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thứ hai, một nguồn lợi đặc biệt quan trọng khác của Biển Đông hiện nay là dầu khí, trong tương lai là nguồn tài nguyên băng cháy, còn gọi là khí hydrat [1]. Biển Đông được đánh giá là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới.
Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunei - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển, trong đó Indonesia là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ - OPEC. Theo ước tính của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, Biển Đông có khoảng 190.000 tỷ feet khối khí tự nhiên và 11.000 tỷ thùng dầu. Trong khi đó, đánh giá của Trung Quốc cho rằng trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng.
Với trữ lượng này, sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì liên tục trong vòng 15 - 20 năm tới [86]. Ngoài ra, Biển Đông còn là một trong 4 khu vực ở Đông Á có tiềm năng về nguồn tài nguyên băng cháy. Theo báo Nihon Keizai, kể từ đầu thế kỷ XXI, Cơ quan Hàng hải và Cục thăm dò khảo sát địa chất của Trung Quốc đã tiến hành thăm dò băng cháy ở Biển Đông và năm 2007 đã tìm thấy trữ lượng băng cháy khoảng 19,4 tỷ m 3 tại vùng biển phía Bắc Biển Đông [1]. Tiềm năng băng cháy chưa được khai thác này được coi là một trong những nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển quanh hai quần đảo này [20, tr.
Thứ ba, Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Đây là tuyến đường biển ngắn nhất đi từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương qua ba cửa ngõ chính ở phía Nam là eo biển Malacca, eo biển Sunda và eo biển Lumbok. Do đó, tuyến vận tải này được đánh giá là tuyến nhộn nhịp thứ hai của thế giới, chỉ sau Địa Trung Hải, với mật độ tàu thuyền trọng tải lớn qua lại trung bình khoảng trên 41. Hơn 90% lượng vận tải thương mại thế giới được thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó đi qua vùng Biển Đông với trị giá khoảng 5.000 tỷ USD/năm, hơn 80% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản, Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan được chuyên chở qua đây, lượng khí hóa lỏng được vận chuyển qua Biển Đông chiếm 2/3 tổng số lượng khí hóa lỏng được buôn bán trên thị trường thế giới.
Trong khu vực có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hong Kong. Phần lớn nguồn dầu mỏ và hàng hóa của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Trung Quốc phải đi qua vùng biển này1 [3]. Nếu khủng 1 Xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản phải đi qua vùng biển này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á chiếm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoảng nổ ra ở vùng biển này, các loại tàu thuyền phải chạy theo đường mới hoặc vòng qua Nam Australia thì cước phí vận tải biển sẽ tăng gấp năm lần và không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh trên biển: Trên bề mặt rộng lớn của Biển Đông, có nhiều đảo, đá, bãi cạn… có giá trị vô cùng quan trọng về chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc của mỗi quốc gia.
Đặc biệt, các đảo, đá, bãi cạn thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận tiện cho việc đặt các trạm thông tin, các đài quan sát, hệ thống đèn biển, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè, cung cấp các dịch vụ hậu cần đảm cho an toàn, an ninh hàng hải [3]. Xuất phát từ an ninh chủ quyền và các lợi ích kinh tế - xã hội từ khai thác biển, đồng thời từ nhu cầu tăng cường hợp tác giữa các quốc gia nhằm đảm bảo an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, do vậy, Biển Đông đã và đang trở thành địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự và an ninh đối với các nước trong và ngoài khu vực và đang được xem như là một phương tiện cho sự thống trị trong khu vực. Bên cạnh các căn cứ hải - không quân đã từng được thiết lập tại đây trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh như căn cứ Subic, Clark, Cam Ranh và Tam Á, hiện các quốc gia trong và ngoài khu vực đặc biệt quan tâm 04 eo biển đó là eo biển Malacca, Lombok, Sunda và Ombai ở Biển Đông bởi việc giành quyền kiểm soát các eo biển này sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các loại tàu ngầm hạt nhân chiến lược có thể tiếp cận mục tiêu, tiến công bất ngờ [42, tr. Các chuyên gia quân sự của Mỹ cho rằng, nếu nước nào bố trí được tàu ngầm hạt nhân tại khu vực quần đảo Trường Sa thì quốc gia đó có thể khống chế được khu vực có bán kính 4.
Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược cũng nhận định: Trong tương lai, thế lực nào khống chế được vùng biển này, thì thế lực đó sẽ khống chế được cả khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, trong bối cảnh hiện nay, Biển Đông được xem là địa bàn truyền thống của các hoạt động cướp biển và khủng bố, nhất là tại eo biển Malacca [13], nhu cầu tăng cường hợp tác về quốc phòng - an ninh giữa các quốc gia trong đấu tranh chống nạn cướp biển để bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải ở Biển Đông ngày càng đặt ra cấp thiết. 55%, các nước công nghiệp mới 26%, Australia 40% và Trung Quốc 22%. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, Biển Đông là tài sản chung của thế giới và khu vực, có vai trò địa - chính trị rất quan trọng, do đó việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông và sự cần thiết cùng hợp tác quản lý bền vững vùng biển này là rất quan trọng, vì lợi ích của tất cả các quốc gia sử dụng nó [38, tr.
Tình hình Biển Đông từ năm 2002 đến năm 2017 Trong 15 năm qua, tình hình Biển Đông diễn biến thăng trầm, song xu hướng ngày càng phức tạp hơn, trong đó: Trung Quốc quyết liệt triển khai toàn diện, sâu rộng và đồng bộ nhiều chính sách, biện pháp nhằm đẩy nhanh thực hiện các tham vọng phi lý ở Biển Đông [25]: Về chính trị - ngoại giao - pháp lý, Trung Quốc thể hiện sự chủ động về mặt chiến lược, ngày càng bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý về Biển Đông; đơn phương ra các lệnh cấm đánh bắt cá ở các vùng biển thuộc chủ quyền của nhiều quốc gia Đông Nam Á từ năm 2004 đến nay. Trung Quốc tuyên bố bác bỏ phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài thường trực trong vụ Philippines kiện Trung Quốc liên quan vấn đề Biển Đông (PCA), gửi Công hàm năm 2009 lên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc công khai bản đồ đường chín đoạn, thành lập, củng cố, hành chính hóa, pháp lý hóa và quân sự hóa Thành phố Tam Sa, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam kể từ năm 2007, đồng thời thúc đẩy xây dựng Cường quốc biển kể từ Đại hội XVIII tháng 11/2012 [94].